Người Giữ Miếu - Chương 2: Lời dặn nửa vời
Tiếng đếm ngoài vách kéo dài đến lúc trời tang tảng sáng thì tắt hẳn, như chưa từng có.
Lâm ngồi co ro bên quan tài, nắm đất đỏ vẫn nằm lạnh ngắt trong lòng bàn tay, suốt mấy tiếng đồng hồ chẳng dám động đậy. Đến khi gà rừng gáy lượt đầu, cậu mới gắng gượng đứng dậy, ra mở cửa.
Sương đã loãng đi nhiều. Sân đất trước nhà vắng tanh, ướt rượt hơi đêm. Cậu cúi xuống soi kỹ — chẳng có một dấu chân lạ nào, chẳng có vết lê nào như cái tiếng "sột soạt" cậu nghe lúc nửa đêm. Sạch trơn.
Lâm tự nhủ: chắc mình mệt quá, nghe nhầm. Còn nắm đất ư? Thì... biết đâu hôm qua người trong họ giẫm đất rừng vào nhà, vô tình gạt vào góc. Cái đầu lý lẽ của cậu tua ra cả chục cách giải thích, cách nào nghe cũng xuôi tai. Cậu chọn tin hết.
Vậy mà cậu vẫn không vứt nắm đất đi. Cậu gói nó vào một mảnh giấy báo, nhét xuống đáy túi.
...
Trời rõ mặt người thì người trong họ lục tục kéo lại. Bếp lửa được khơi lên, nồi cháo to đặt lên kiềng. Đám tang vùng cao kéo dài mấy ngày, người sống vẫn phải ăn, vẫn phải lo.
Lâm bưng bát cháo, ngồi xuống cạnh bà bác hôm qua, hỏi nhỏ:
"Bác ơi, đêm qua... có ai vào trong nhà không ạ? Vào cái góc dưới bàn thờ ấy."
Bà bác đang thổi cháo, nghe vậy thì khựng tay. "Góc nào?"
"Cháu thấy có nắm đất ở đó. Đất rừng."
Cái thìa trong tay bà bác rơi đánh "cạch" xuống bát. Bà nhìn cậu trân trối một thoáng, rồi vội vàng cúi mặt, lảng đi: "Tao... tao không biết. Ăn cháo đi, nguội bây giờ."
Cậu định hỏi tiếp thì bà đã đứng dậy, bưng bát ra chỗ khác ngồi. Mấy người ngồi gần đó cũng tự nhiên im bặt, kẻ thì gãi đầu, người thì vờ bận tay vào việc.
Lâm nuốt câu hỏi xuống cùng với ngụm cháo. Cậu bắt đầu hiểu ra một điều: ở cái bản này, có những chuyện người ta thà giả điếc chứ nhất quyết không mở mồm. Mà càng giả điếc, thì cái cảm giác lờ mờ khó chịu trong bụng cậu lại càng dày lên.
...
Gần trưa, thầy Tào tới.
Lão già lụ khụ chống một cây gậy trúc, lưng đeo cái túi nải sờn rách, lệt sệt lê dép lên cầu thang, miệng càu nhàu không ngớt: "Dốc với chả đèo, cái chân già này sắp rụng ra tới nơi rồi... Nước đâu, cho lão chén nước. À mà thôi, nước nôi gì, có rượu không? Cúng bái thì phải có tí rượu lấy hơi chứ."
"Thầy Sằm tới rồi! Mời thầy, mời thầy ngồi." Mấy ông cao niên đon đả đỡ lấy túi nải cho lão.
Lão Sằm là thầy Tào lâu năm nhất vùng này. Da mặt nhăn nhúm như vỏ cây khô, mắt lúc nào cũng lim dim ngái ngủ, nhưng hễ liếc ai một cái là người ta có cảm giác bị nhìn thấu tận ruột gan. Lão nhận bát rượu ngô, ngửa cổ làm một hơi cạn sạch, khà một tiếng sảng khoái, rồi mới đảo mắt nhìn quanh gian nhà. Ánh mắt lão dừng lại trên người Lâm hơi lâu.
"Mày là thằng cháu nhà ông Khoan? Cái thằng xuống xuôi ấy hả?"
"Vâng. Cháu chào thầy."
Lão Sằm ậm ừ, chẳng nói gì thêm, bắt đầu lôi đồ nghề ra bày: mấy quyển sách cúng giấy đã ố vàng, một con dao gỗ, cái ấn khắc chữ loằng ngoằng, ba cây nến. Lão làm lễ phát tang, miệng tụng lầm rầm thứ tiếng Tày cổ mà Lâm nghe chẳng hiểu mô tê gì, tay gõ nhịp lên cái mõ nhỏ.
Đến lúc nghỉ giữa buổi, lão Sằm vẫy Lâm lại gần, làm bộ như sai vặt:
"Thằng kia, ra sau bếp lấy cho lão thêm bát rượu."
Lâm đi theo. Ra tới chái bếp khuất người, lão Sằm bỗng hạ giọng, ánh mắt lim dim ban nãy đột nhiên sắc lại:
"Đêm qua mày canh quan tài một mình à? Có thấy gì không?"
Lâm sững người. "Thầy... sao thầy biết?"
"Lão hỏi mày có thấy gì không kia." Giọng lão gấp gáp hẳn.
Lâm định kể chuyện nắm đất, chuyện tiếng đếm, nhưng không hiểu sao lại chần chừ. Cậu chỉ đáp lấp lửng: "Cháu... nghe loáng thoáng có tiếng động ngoài vách. Chắc là gió."
Lão Sằm nhìn cậu một lúc lâu, như cân nhắc xem nên nói bao nhiêu. Cuối cùng lão thở hắt ra, vỗ vai cậu, giọng trầm xuống:
"Nghe lão dặn. Từ giờ đến lúc đưa ông mày lên núi, ban đêm tuyệt đối không được quét nhà. Nhất là cái góc dưới bàn thờ — đừng có đụng chổi vào, đừng quét hắt ra phía cửa. Nghe chưa?"
"Sao lại..."
"Đừng hỏi sao. Cứ làm theo." Lão giơ một ngón tay gầy guộc lên. "Còn nữa: mỗi bữa cơm, miếng đầu tiên, chén đầu tiên, để riêng ra một góc cho... cho cái nhà này. Đừng ăn trước. Khách khứa cũng phải dặn thế."
"Cho cái nhà này?" Lâm cau mày. "Là cho ai ạ?"
Lão Sằm không đáp. Lão chỉ rít một hơi thuốc, nhả khói, lảng sang chuyện khác bằng cái giọng càu nhàu cố hữu: "Nhà ông Khoan giữ miếu mấy đời rồi. Giữ miếu... là gánh nợ thay cho cả cái bản này đấy, thằng ranh ạ. Cái nợ ấy, ông mày gánh, ông cụ mày gánh, ông kị mày cũng gánh. Giờ ông mày đi rồi mà chưa kịp..."
Lão bỏ lửng câu nói, lắc đầu, đoạn chìa bát rượu không ra: "Thôi, rót cho lão bát nữa. Già rồi, nói nhiều mỏi mồm."
Lâm rót rượu, trong đầu rối tung. Nợ gì? Trả cho ai? Mà cái lão thầy cúng này, rõ ràng biết nhiều hơn những gì lão chịu nói.
...
Buổi chiều, bà Lử được con gái đèo xe tới.
Bà là bà Then của vùng, chuyên gọi hồn, giải hạn. Bà già rồi, hai mắt đục ngầu vì kéo mây, gần như chẳng nhìn thấy gì, đi đâu cũng phải có người dắt. Nhưng dân bản đồn rằng cặp mắt mù của bà nhìn được những thứ người mắt sáng không nhìn ra.
Người nhà nhờ bà gọi hồn ông Khoan, xem ông đi có thanh thản không, có dặn dò gì không — theo lệ thường tình thôi.
Bà Lử ngồi xếp bằng trước quan tài, đặt một bát nước đầy lên chiếu. Bà thả vào đó một nhúm gạo trắng, rồi gảy mấy tiếng đàn, miệng khe khẽ hát then, gọi tên ông Khoan, mời ông về.
Cả gian nhà nín thở.
Một lúc lâu, bà Lử ngừng đàn. Bà cúi đầu, áp tai gần như chạm vào mặt nước, lắng nghe cái gì đó. Rồi gương mặt nhăn nheo của bà từ từ biến sắc.
"Sao thế bà? Ông nhà cháu có về không ạ?" Bà bác run run hỏi.
Bà Lử không trả lời ngay. Bàn tay gân guốc của bà lần mò chạm vào miệng bát, khẽ nghiêng đầu như đang "nhìn" những hạt gạo bên trong.
Lâm nãy giờ đứng nép một bên, cũng tò mò ghé mắt vào bát nước. Cậu thấy đám gạo trắng ban đầu rải đều khắp đáy bát, giờ chẳng hiểu vì lẽ gì lại từ từ trôi dạt, chụm cả về một phía thành ván — phía quay ra cửa, hướng về cái miếu đầu rừng.
"Ông ấy..." Bà Lử cất giọng, khàn và chậm, "...chưa đi được."
"Chưa đi được là sao ạ?"
"Còn vướng. Còn nợ chưa trả." Bà Lử ngẩng cặp mắt mù lên, quay đúng về phía Lâm, làm cậu giật thót. "Nợ chưa trả thì đi sao được. Mà cái nợ này... nặng lắm."
Lão Sằm ngồi ở góc nhà, nghe vậy thì lặng lẽ đặt bát rượu xuống, không uống nữa.
Không khí trong nhà đặc quánh lại. Bà bác bật khóc tấm tức. Mấy ông cao niên đưa mắt nhìn nhau, gương mặt ai nấy đều xám đi.
Lâm mở miệng định hỏi cho ra nhẽ "cái nợ" mà ai cũng nhắc tới nhưng chẳng ai chịu nói thẳng ấy rốt cuộc là gì —
Thì ngoài sân, có tiếng chân chạy huỳnh huỵch, gấp gáp. Một người đàn bà tóc tai rũ rượi lao bổ lên cầu thang, vừa thở vừa gào, giọng vỡ ra vì hoảng loạn:
"Thầy Sằm ơi! Thầy cứu nhà em với! Thằng Phúng nhà em... đêm qua nó tự dưng bỏ nhà đi! Em gọi khản cổ nó chẳng thưa, cứ thế lầm lũi đi về phía rừng! Sáng nay tìm khắp không thấy đâu nữa rồi, thầy ơi!"
Cả gian nhà chết lặng.
Bà Lử từ từ quay mặt ra phía cửa, về hướng cánh rừng. Đám gạo trong bát nước, lúc này đã chụm chặt thành một khối, không còn một hạt nào rời ra nữa.