Nén Nhang Cắm Ngược - Chương 1: “Hội ma” giữa rừng
A Púa ngồi thu lu một góc, cả người co rúm lại, run bần bật. Mười ngón tay đan vào nhau, những chiếc móng đen đúa cắm chặt vào da thịt đến nỗi chảy cả máu, nhưng thằng bé vẫn không thấy đau. Hai mắt nó trợn trừng nhìn A Dơ và A Dở đang trùm chăn kín mít, miệng liên tục phát ra những âm thanh rợn người. Đây không phải lần đầu tiên A Dơ và A Dở kể chuyện về con ma rừng cho A Púa nghe, nhưng lần này nó sợ nhất, vì có cả một “hội ma” giữa rừng.
Người H’Mông sợ con ma rừng lắm, cả “hội ma” thì càng sợ hơn. Có lần thằng A Púa nghe kể chuyện xong không dám đi học, vì nó sợ con ma rừng bắt mất hồn nó, rồi nó không nhận ra bố, mẹ nó, ăn thịt luôn cả họ thì sao? Sợ là vậy, nhưng đợi hết sợ nó lại nằng nặc đòi A Dơ và A Dở kể chuyện ma cho nghe, rồi nó lại sợ tiếp. Vòng tuần hoàn đó cứ diễn ra như vậy khiến A Dơ và A Dở phát buồn chán, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, nhà có mỗi đứa cháu, không chiều nó thì chiều ai.
A Dơ và A Dở là cặp sinh đôi nam, nữ; A Dơ đẻ trước mấy tiếng nên là anh. Năm nay, hai đứa nó vừa tròn 18, trong khi anh trai chúng tên Giàng Nỏ Hành - cũng là bố của thằng A Púa – cũng mới 23 tuổi. Cả ba là con của trưởng bản Hua Rốm tên Giàng A Tu.
Trong khi, A Dơ và A Dở đang túm tụm lại dọa ma thằng A Púa ở dưới nhà dưới, thì ở trên nhà trên, trưởng bản, con trai cả, cùng mấy thanh niên trai tráng trong bản lại đang bàn công việc. Dân bản gần đây phản ánh xuất hiện trâu rừng phá nương rẫy bà con vừa gieo hạt, nên mọi người đang bàn cách đặt bẫy, tiện thể mở hội mổ trâu luôn. A Dơ đáng lẽ lúc này cũng phải ở nhà trên lo đại sự, nhưng nó lại thích trốn ở nhà dưới, vào hùa với con A Dở, dọa thằng cháu con ma rừng đến nỗi tè ra quần.
Càng về giữa đêm, trời càng tối đen như mực, không khí càng lạnh buốt. Kéo chăn đắp cho thằng A Púa đã ngủ từ lúc nào, A Dở nhìn anh trai, rồi cả hai cùng nhìn lên nhà trên, thở dài. Bên trong vẫn bập bùng ánh lửa, chẳng biết sau đêm nay, bản mình có bắt nổi con trâu rừng hay không.
Đúng lúc này, ba tiếng súng kíp bất ngờ vang lên từ nhà trên khiến hai đứa giật nảy mình. Bọn nó nhìn nhau, gương mặt thảng thốt, dường như đang mường tượng ra điều gì đó chẳng lành. Người H’Mông chúng nó đều hiểu tiếng súng kíp đó có nghĩa là gì, chẳng phải đó là âm thanh báo hiệu cho dân bản biết rằng có người trong nhà vừa chết hay sao. Da gà nổi hết lên vì sợ hãi, thằng A Dơ nhanh chân chạy trước, con A Dở cũng theo ngay sau anh. Ba tiếng súng kíp vang lên ở nhà trên, vậy thì… có lẽ nào…
A Dơ và A Dở vừa lên đến nhà trên đã thấy Nỏ Hành đang quỳ sụp dưới sàn nhà, đầu gục lên người ông A Tu nằm giữa nhà, ngay trên vũng máu đỏ lòm, mùi tanh tưởi xộc lên nồng nặc. Ở bụng ông A Tu có một vết thương lớn do bị trâu rừng húc trước đó. Dù đã được khâu lại, nhưng chẳng hiểu sao bây giờ lại rách toạc, nhìn thấy cả nội tạng bên trong, máu từ đó cũng đang chảy không ngừng. Vây quanh là đám thanh niên bản, gương mặt ai cũng lộ ra sự đau buồn. A Dơ và A Dở cũng vậy, chúng nó cứ tưởng bố chúng nó đã qua cơn nguy hiểm, vậy mà cuối cùng vẫn bị con trâu rừng húc chết. Con A Dở nhìn cảnh tượng đó sợ quá đứng run cầm cập, chân vô thức lùi về phía sau, nhưng hai mắt nó lại lạnh toát nhìn gương mặt máu me, máu tươi vẫn trào ra ngay khóe miệng.
Trưởng bản Giàng A Tu chết ngay giữa đêm, nhưng tất cả dân trong bản đều theo tiếng súng kíp mà xuất hiện ở nhà trưởng bản, người chia buồn, người xem có việc gì thì đỡ đần gia chủ. Vợ trưởng bản đã chết 3 năm trước, nên việc ma chay sẽ do các con đứng ra lo liệu. Theo tập tục của người H’Mông, ba con của ông A Tu sẽ phải cùng nhau lau mặt, mũi, chân tay và thay quần áo mới sạch sẽ cho bố trước khi về với tổ tiên. Nhưng, con A Dở vì sợ quá nên không cầm nổi khăn mà lau mặt cho bố, cả người co rúm bên cạnh thằng A Dơ. Thằng A Dơ cũng sợ, nhưng gan lì hơn, bưng chậu nước đỏ lòm vừa rửa xác cho bố xong đổ vào gầm giường lúc bố còn sống nằm, còn cái khăn lau mặt thì được nó đem phơi khô, chờ đốt theo đồ đạc của người chết. Sau khi tắm rửa xong cho xác chết, mọi người cùng nhau treo thi thể người chết lên giữa nhà, để thồ linh hồn người chết về với tổ tiên. Trong khi đó, con cả Giàng Nỏ Hành nhanh chóng đi mời Dở mủ (thầy cúng chỉ đường) về làm lễ “khai kế” đưa đường chỉ lối cho vong hồn bố.
Lúc Dở mủ đến được nhà trưởng bản thì trời cũng đã sáng tỏ, xác trưởng bản A Tu được mọi người đưa xuống, mặc áo quan và nhập quan. Trước khi đóng nắp quan tài, ba người con của ông là Nỏ Hành, A Dơ và A Dở, mỗi người phải cho bố một bộ quần áo mới, một con lợn để làm của cải mang về dưới cõi âm làm ăn. Tuy nhiên, vì trưởng bản chết bất đắc kỳ tử nên các con của ông đều không xoay sở kịp, mãi đến gần trưa mới chuẩn bị xong quần áo mới và lợn. Nắng đã lên tận ngọn núi, mới nửa ngày mà thi thể ông A Tu đã bốc mùi hôi thối nên mọi người vãn đi dần, chỉ còn ba anh em Nỏ Hành, A Dơ và A Dở bên cạnh quan tài bố. Theo thứ tự, Nỏ Hành là người đầu tiên giao quần áo và lợn, tiếp đến là A Dơ và cuối cùng là A Dở. Xong xuôi mọi chuyện, A Dở ngồi thu lu một góc, ôm thằng A Púa ở trong lòng. Thằng A Púa khóc như lúc nó nghe chuyện về con ma rừng, trong khi con A Dở chỉ ngồi im, dù toàn thân nó đang run cầm cập, nhưng ánh mắt nó vẫn như lúc đầu, lạnh buốt nhìn quan tài bố vừa đóng lại, mùi hôi thối của tử thi xộc vào mũi nhưng lạ là nó lại chẳng thấy buồn nôn.
*
Đã một năm kể từ khi trưởng bản Giàng A Tu chết bất đắc kỳ tử, bản Hua Rốm cũng đã có trưởng bản mới, nhưng đối với anh em Nỏ Hành, A Dơ và A Dở, ký ức về ngày này một năm trước vẫn còn vẹn nguyên. Mẹ ba đứa mất sớm, một mình ông A Tu nuôi nấng ba anh em, dù có phần hà khắc, nhưng vẫn là người thân ruột thịt. Rồi một năm trước, ông A Tu cũng bị con ma ngũ hải trong xác con trâu rừng bắt hồn, hành xác đến hộc máu mồm mà chết, để ba anh em chúng nó ở lại. Người anh cả Nỏ Hành đã có gia đình riêng, trong khi hai đứa A Dơ, A Dở cũng đến tuổi dựng vợ gả chồng, giờ không có ai soi đường chỉ lối.
Hôm nay, ba anh em chúng nó tụ lại để làm lễ cúng “ùa plì” cho bố, để hồn bố được ra đi thanh thản. Lễ cúng cũng có nhiều dân bản đến giúp, cả trưởng bản mới cũng muốn tiễn đưa ông A Tu đoạn đường cuối cùng. Lễ cúng diễn ra lúc nửa đêm, trùng với thời gian ông A Tu chết một năm trước. Nghĩa địa tối thui, hơi lạnh mang theo mùi tử khí khiến ai cũng rợn người, nhưng phải cố cắn răng làm cho xong còn kịp về nghỉ ngơi. Đoàn rước ma với người dẫn đầu là thầy Dở mủ đang bày biện mọi thứ trước mộ ông A Tu để bắt đầu làm lễ. Con A Dở để ý thấy một bát hương chưa cắm que hương nào, chẳng biết để làm gì, còn lại nó nhìn mà chẳng hiểu thầy Dở mủ đang làm gì. Ba anh em nó đứng ngay sau thầy Dở mủ, thầy bảo cúi lạy thì cúi lạy, bảo đứng lên ngồi xuống thì đứng lên ngồi xuống. Một hồi sau, tất cả cũng đã xong, ba anh em Nỏ Hành, A Dơ và A Dở lần lượt cắm ba nén nhang lên bát hương khi nãy rồi cũng toan theo đoàn rước ma ra về. Tuy nhiên, đúng lúc này, gió đột nhiên rít mạnh hơn chưa từng có, bụi cát bay mù trời, thậm chí còn khiến dòng người đưa ma chao đảo khe khẽ. Ai nấy đều không hiểu chuyện gì đang xảy ra, cố ghì người đi về phía trước. Bỗng, tiếng con A Dở thất thanh vang lên ở cuối đoàn người khiến tất cả phải đồng loạt quay lại.
A Dở đứng bất động, toàn thân đơ cứng, ngón tay run rẩy chỉ về phía mộ ông A Tu, miệng nó ú ớ không thành tiếng vì hai hàm răng đang va mạnh vào nhau, nghe những tiếng “lập khập” kến người.
- Kia… kia… là…
“Một… nén… nhang… cắm… ngược! hahaha”
Thứ giọng ồm ồm quen thuộc vang lên giữa đêm tối tịch mịch, cùng với đó là tiếng cười khành khạch. Mọi người đều nhận ra chủ nhân của thứ âm thanh sởn da gà đó. Phải! Nó thuộc về ông A Tu, người chỉ còn là một bộ xương trắng hếu ở dưới nấm mộ đã xanh cỏ. Cả đoàn người hú hét nhau bỏ chạy, chỉ có anh em Nỏ Hành, A Dơ, A Dở, trưởng bản mới, thầy Dở mủ và vài người cố nán lại, đồng tử ai cũng bất động nhìn chằm chằm vào nén nhang cắm ngược trong ba nén nhang ở trên bát hương.