Máu Nhuộm Phủ Hội Đồng - Chương 1
Tiếng mõ tre của thầy Pháp mập kêu lên từng tràng dài cộc... cộc... cộc... khô khốc, xé toạc bầu không khí âm u của buổi chiều tà xứ đồng bưng. Trời Nam Bộ cuối thu chập choạng tối, mây đen nghịt kéo về giăng kín lối đi. Dọc theo con đường đất đỏ sình lầy dẫn vào phủ Hội đồng Bùi, một đoàn rước dâu lầm lũi bước đi trong sự im lặng đến rợn người.
Không có tiếng kèn thổi xập xình, cũng chẳng có tiếng cười nói chúc tụng của bà con chòm xóm. Chiếc kiệu hoa cưới nằm chao đảo trên vai bốn gã lực điền vạm vỡ, nhưng tịnh không một chút sắc đỏ may mắn. Toàn bộ chiếc kiệu được phủ bằng một tấm vải trắng tinh khôi, thứ vải người ta vốn chỉ dùng để may khăn tang cho người chết.
Bên trong kiệu, Lài ôm chặt lấy chiếc tráp gỗ nhỏ đựng vài bộ đồ cũ, nước mắt tuôn rơi lã chã, thấm đẫm cả lớp phấn son rẻ tiền được trét vội. Cô cắn chặt đôi môi đến bật máu để ngăn bản thân không bật ra tiếng khóc nghẹn ngào.
Gia đình cô nghèo rớt mồng tơi, cha trở bệnh nặng không tiền thuốc thang, lại thêm mấy mùa lúa thất bát, nợ nần chồng chất.
Ông Hội đồng Bùi buông một lời: “hoặc gán nợ bằng mạng Lài, hoặc cả nhà cô ra bìa rừng mà ở.”
Vì chữ hiếu, Lài nhắm mắt đưa chân, chấp nhận tấm thân trinh trắng này để bước vào chốn làm dâu nhà giàu. Nhưng cô đâu ngờ, cưới xin nhà người ta là chuyện hỷ, còn cô lại như bị người ta đem đi hộ tống ra bãi tha ma.
Đoàn người dừng lại trước cổng phủ họ Bùi. Hai cánh cổng gỗ căm xe to lớn, đen ngòm như hai tấm bia mộ khổng lồ sừng sững hiện ra. Thầy Pháp mập, gã thầy cúng gia tộc có thân hình sần sùi, bụng phệ, mặc chiếc áo vạt hò thẫm màu, bước lên gõ mạnh mõ ba tiếng dằn giọng:
- Giờ lành đã điểm! Tân nương bước qua bậc cửa, trấn giữ điền sản, lộc bất tận hưởng!
Bốn gã lực điền hạ kiệu. Lài run rẩy bước ra, tà áo cưới trắng bay phần phật trong gió lạnh. Ngay trước sảnh chính, Bà Lớn , vợ ông Hội đồng Bùi đang ngồi chễm chệ trên chiếc ghế tựa bằng gỗ trắc. Bà ta ngoài năm mươi tuổi, tóc bới cao cài trâm vàng, mặt đánh phấn trắng bệch, đôi mắt sắc lẹm như dao cạo nhìn chằm chằm vào Lài từ đầu đến chân.
Bên cạnh bà là cậu Ba, người chồng hợp pháp của cô. Cậu Ba năm nay đã hai mươi sáu tuổi nhưng thân hình gầy gò, một bên chân trái bị tật teo tóp, co quắp lại. Đôi mắt cậu mở to, ngơ ngác, miệng liên tục chảy nước miếng, cười hơ hớ khi thấy đông người.
Bà Lớn gõ mạnh chiếc ba toong xuống nền gạch tàu kêu lên một tiếng cộp chói tai, giọng lạnh lùng buông xuống:
- Lạy bàn thờ tổ xong thì dắt nó về phòng sau kho lúa. Từ nay về sau, phận làm dâu thì phải biết giữ miệng giữ mồm, việc không phận sự thì chớ có tò mò.
Lài cúi đầu run rẩy:
- Dạ... thưa má lớn, con nhớ rồi.
Bà Lớn không thèm đáp, chỉ phẩy tay đầy ghẻ lạnh. Cậu Ba thấy Lài khóc, liền lết cái chân tật nguyền lại gần. Cậu đưa bàn tay lem luốc, bốc mùi bùn đất lên quẹt ngang nước mắt trên má Lài, cười ngây ngô:
- Vợ đẹp... vợ đẹp đừng khóc nha. Ba thương... Ba cho vợ kẹo nè.
Nói rồi, cậu Ba móc trong túi áo bà ba ra một viên kẹo mạch nha đã chảy nước, dính đầy xơ vải, chìa ra trước mặt Lài với ánh mắt hết sức thuần khiết. Lài nhìn người chồng ngây dại của mình, lòng quặn thắt một nỗi chua chát khôn cùng. Ít ra, giữa cái phủ lộng lẫy nhưng lạnh lẽo như nhà mồ này, người chồng điên dại này lại là kẻ duy nhất nhìn cô với ánh mắt của một con người.
Nghi thức bái đường diễn ra chớp nhoáng dưới sự giám sát của thầy Pháp mập. Khi Lài quỳ xuống trước ban thờ tổ tiên họ Bùi rộng lớn, cô chợt rùng mình. Phía sau những bát hương nghi ngút khói, bầu không khí bỗng chốc đặc quánh lại, lạnh ngắt như có hàng trăm ánh mắt vô hình từ trong bóng tối của những bức vách gỗ đang trừng trừng nhìn vào gáy cô. Một luồng hơi lạnh tanh nồng mùi bùn đất từ bên dưới kẽ gạch tàu đột ngột xộc thẳng lên chân Lài, buốt nhói, khiến cô giật mình suýt ngã quỵ ngay trước bài vị tổ dòng họ Bùi.
Lễ tất, gã gia nhân dắt Lài và cậu Ba đi qua dãy hành lang dài dằng dặc, hướng về phía gian nhà kho cũ kỹ nằm tách biệt ở tít phía sau tổng phủ. Đêm buông xuống, bóng tối nuốt chửng ngôi dinh thự rộng lớn, để lại tiếng gió rít qua rặng tre già nghe ai oán như tiếng khóc than của người khuất mặt.
Căn phòng ngủ của Lài và cậu Ba nằm nép mình ở gian nhà sau, cách cái kho lúa cũ của phủ họ Bùi chỉ bằng một khoảnh sân nhỏ lát gạch tàu. Căn phòng tuềnh toàng, ngoài chiếc giường tre, một chiếc rương gỗ mục và một ngọn đèn dầu heo leo lét thì chẳng có thứ gì giá trị.
Đêm tân hôn đầu tiên, cậu Ba chỉ biết ngủ say, ôm lấy chiếc gối ôm rách góc mà cuộn tròn người lại như một con mèo nhỏ. Còn Lài thì thức trắng. Suốt đêm ấy, cứ đúng giờ Tý (12 giờ đêm), cô lại nghe thấy tiếng cào... cào... kít... ghê rợn phát ra từ phía bức tường gỗ sát vách kho lúa, kèm theo mùi tanh nồng, ngai ngái như mùi máu tươi từ khe gạch bốc lên. Nhưng nỗi kinh hoàng về đêm chưa kịp nguôi ngoai, thì bi kịch ban ngày của phận làm dâu nhà giàu đã lập tức ập xuống đầu cô gái trẻ.
Gà vừa gáy sang canh tư, khi sương muối còn giăng đặc trên ngọn tre, Lài đã phải giật mình thức giấc bởi tiếng đập ba toong cộc... cộc... cộc... khan khốc của Bà Lớn ngoài cửa buồng. Cô vội vã khoác chiếc áo bà ba cũ, bước ra giếng nước sau nhà. Cả một đống quần áo lụa là, chăn nệm của ông Hội đồng và Bà Lớn chất cao như núi đang đợi đôi bàn tay gầy guộc của cô. Nước giếng ban sớm lạnh buốt như kim châm vào da thịt. Lài vừa vò quần áo, hai hàm răng vừa đánh vào nhau lập cập, nước mắt tủi hờn cứ thế trào ra, nhỏ xuống chậu gỗ.
Đến giờ dùng cơm sáng, Lài không được phép ngồi chung bàn với gia đình. Cô phải đứng khép nép bên cạnh chiếc trường kỷ, tay cầm chiếc quạt giấy lớn, liên tục quạt hầu cho ông Hội đồng và Bà Lớn.
- Con lài này! Mày mù hay sao mà không thấy bình trà của ông lớn hết nước?
Bà Lớn liếc mắt, giọng sắc lẹm như dao cạo hất hàm về phía ấm sứ.
Lài run rẩy cúi đầu:
- Dạ... dạ thưa má lớn, con đi châm nước liền.
Cô vội vã bưng bình trà ra sau bếp. Vì vội vàng và tay còn run do lạnh, khi bưng bình nước sôi trở lên, Lài vô tình làm rớt vài giọt nước nóng trúng tay ông Hội đồng. Ông Bùi lập tức nổi trận lôi đình, vung tay tát một cú trời giáng vào mặt cô.
Chát!
Lài ngã nhào xuống nền gạch tàu, bình trà vỡ tan tành, nước sôi bắn tung tóe vào chân làm cô đau rát. Ông Hội đồng hầm hầm đập tay xuống bàn, trợn mắt quát lớn:
- Đồ cái thứ vô tích sự! Nhà tao bỏ tiền tạ tiền tấn ra chuộc cái gia đình mày khỏi nợ lúa, rước mày về đây làm dâu để hầu hạ nhà tao, chứ không phải rước một con nhỏ hậu đậu về làm bà tướng nhen con! Tụi bay đâu, lôi nó ra sân!
Bà Lớn ngồi bên cạnh thản nhiên húp ngụm súp yến, buông một câu lạnh tanh:
- Tụi bay đâu! Lôi nó ra giữa sân gạch, phạt quỳ dưới nắng hai tiếng đồng hồ cho nó chừa cái thói hậu đậu. Đứng đó nhìn cái gì? Lôi nó đi cho tao.
Lài cắn răng, bị lôi xồng sộc ra giữa khoảng sân gạch tàu đang bắt đầu nóng ran dưới cái nắng gay gắt của miền Tây. Cô quỳ sụp xuống, đầu gối đau nhói, mồ hôi vã ra như tắm, đầu óc quay cuồng. Người làm trong phủ đi qua đi lại, tịnh không một ai dám nhìn cô bằng ánh mắt thương xót, họ chỉ cúi đầu né tránh cái uy quyền tàn độc của Bà Lớn.
Chính lúc Lài tưởng như mình sẽ ngất xỉu vì kiệt sức, một bóng người gầy gộc bỗng lết cái chân tật nguyền từ trong hiên nhà đi ra. Là cậu Ba. Cậu đội một chiếc nón lá rách vành, hai tay ôm một tô cháo cá lóc còn nghi ngút khói. Cậu lết từng bước khó nhọc đến bên cạnh Lài, rồi không sợ sệt gì, cậu ngồi bệt luôn xuống nền gạch nóng bỏng bên cạnh cô. Cậu lấy chiếc nón lá trên đầu xuống, ra sức quạt phành phạch cho Lài, miệng cười hơ hớ:
- Vợ ơi... ăn cháo đi... Ba lén má Lớn múc cho vợ nè. Cá nhiều lắm, ngon lắm nhen!
Lài nhìn tô cháo dính đầy bụi bẩn từ bàn tay lem luốc của người chồng điên dại, rồi nhìn ánh mắt hết sức thuần khiết, lo lắng của anh dành cho mình. Bao nhiêu tủi nhục, uất nghẹn nơi cổ họng bỗng chốc vỡ òa. Cô ôm lấy bờ vai gầy của cậu Ba, khóc thút thít:
- Cậu Ba ơi... cậu vào nhà đi... Má Lớn thấy cậu ngồi đây là má đánh đòn cả hai đứa bây giờ...
Cậu Ba lắc đầu nguầy nguậy, lấy vạt áo bà ba quẹt ngang mũi, giọng kiên quyết:
- Hông... Ba hông vô! Ba quỳ với vợ. Có con ma nắng nó cắn vợ, Ba đánh chết con ma nắng luôn!
Nhìn điệu bộ bảo vệ thật tình của người chồng điên dại, lòng Lài dấy lên một niềm xúc động xen lẫn xót xa khôn cùng. Giữa cái phủ Hội đồng tàn ác và đầy oán khí ấy, tình yêu ngây ngô của người chồng điên dại lại chính là dòng nước mát lành nuôi sống linh hồn Lài.
Nhưng chuỗi ngày yên bình ngắn ngủi qua đi, đêm đến, luật tục canh giờ tàn nhẫn lại bắt đầu. Khi trăng lên khuất sau ngọn tre, từ ngoài sân, tiếng gõ ba toong của Bà Lớn lại vang lên lạnh khốc. Đi sau bà là gã gia nhân lực điền, tay cầm xấp bùa niêm phong.
- Đến giờ Tý rồi, mau chốt chặt cửa trong. Đêm nay dù có nghe thấy tiếng động gì ngoài sân, tuyệt đối không đứa nào được mở cửa ngó ra. Bằng không, đừng trách ta ác độc.
Lài run rẩy gài then cửa gỗ. Bên trong, cậu Ba đã trèo lên giường từ bao giờ. Cậu ôm lấy chiếc gối ôm rách góc, cuộn tròn người lại. Thấy Lài đứng trơ trọi cạnh bàn, cậu Ba ngước đôi mắt tròn xoe, ngây ngô vỗ vỗ xuống khoảng trống bên cạnh:
- Vợ ơi... ngủ đi... Ma bắt đó! Ngoài sân có con ma hay khóc nhè lắm, Ba sợ lắm!
Lài khẽ thở dài, bước lại gần giường, ngồi xuống mép nệm. Cô khẽ hỏi:
- Cậu Ba... cậu nói ngoài sân có ma là sao? Cậu thấy rồi hả?
Cậu Ba lắc đầu nguầy nguậy, hai tay bịt chặt lấy tai, giọng run lên:
- Không thấy... không thấy! Má Lớn dặn coi là bị móc mắt đó. Chỉ nghe khóc thôi. Khóc... khóc hu hu dưới đất á!
Nhìn điệu bộ sợ hãi thật tình của người chồng điên dại, lòng Lài dấy lên một nỗi bất an tột cùng. Cô nằm xuống, quay lưng về phía ngọn đèn dầu đã vặn nhỏ. Tiếng kim đồng hồ quả lắc từ gian nhà chính vọng lại, điểm đúng mười hai giờ đêm.
Không gian xung quanh đột ngột chìm vào một sự tịch mịch đến đáng sợ. Gió ngoài vườn tre ngừng rít, nhưng nhiệt độ trong phòng lại giảm mạnh, khiến Lài phải kéo tấm chăn bông mỏng đắp kín ngực.
Đúng lúc ấy, một mùi tanh nồng, ngai ngái như mùi máu tươi pha lẫn mùi bùn sình thối rữa từ đâu xộc lên, len lỏi qua những khe gạch lát nền nhà. Lài nín thở, tim đập thình thịch liên hồi.
Cào... cào... kít...
Tiếng động lạ phát ra từ phía bức tường gỗ sát vách kho lúa. Nó giống như tiếng những ngón tay người với phần móng sắc nhọn đang điên cuồng cào cấu, rạch xé vào những thớ gỗ dày.
...Lạnh quá... Oán quá... Chôn sâu dưới đất lạnh...
Một tiếng thầm thì khản đặc, âm u của người phụ nữ vọng lên từ bên dưới nền đất gạch tàu, ngay sát cạnh giường ngủ của hai người. Tiếng khóc nghẹn ngào, ai oán thấu tận tâm can, nghe như có một người đang bị chôn sống sâu dưới lòng đất lạnh, đang dùng chút hơi tàn cuối cùng để gào thét van xin.
Lài kinh hoàng bật dậy, hai tay ôm chặt lấy bả vai, toàn thân run bẩy bẩy. Cô nhìn sang bên cạnh, cậu Ba đã ngủ say từ bao giờ, nhưng gương mặt cậu co rúm lại, miệng lẩm bẩm trong cơn mộng mị:
- Đừng bắt... đừng bắt Ba... má ơi...
Nỗi tò mò và lòng can đảm của một đứa con gái miền sông nước trỗi dậy. Lài rón rén bước xuống giường. Cô áp sát tai vào khe cửa gỗ, nhìn qua kẽ hở ra khoảng sân gạch phía ngoài.
Dưới ánh trăng mờ ảo của đêm rằm, khoảng sân vắng ngắt. Thế nhưng, ngay trước cửa gian nhà kho cũ, có một dải chất lỏng màu đen đặc đang rỉ ra từ kẽ đất dưới móng nhà, loang lổ như máu đen. Và từ trong bóng tối đặc quánh của kho lúa, Lài thề rằng cô đã thấy một mái tóc đen dài rũ rượi, ướt sũng, đang từ từ kéo lê trên mặt đất, hướng thẳng về phía căn phòng của cô.
Lài hốt hoảng lùi lại, vấp phải chiếc rương gỗ ngã nhào xuống sàn. Tiếng động phát ra làm tiếng cào cấu ngoài tường đột ngột dừng lại. Thay vào đó, một tiếng thở dài kẽo kẹt vang lên ngay sát ô cửa sổ, rồi một giọng nói ma quái lọt thẳng vào tai cô:
- Đến lượt mày rồi... Xuống đây với tao... Lạnh quá...