Câu chuyện nghĩa địa - Chương 1: KHÔNG AI CẢ ĐẾN NGHĨA ĐỊA (7)
Ở giảng đường bên sườn đồi, cuộc tranh cãi vẫn tiếp tục. Việc hai vợ chồng nhà Owens, chứ không phải một con ma mới càn quấy nông nổi nào đó, lại vướng vào chuyện vớ vẩn này khiến mọi người rất chú ý, vì nhà Owens là những người đáng kính và được tôn trọng. Việc Silas tình nguyện làm người bảo trợ cho thằng bé cũng có một ảnh hưởng lớn - người dân trong nghĩa địa luôn có một nỗi kính sợ thận trọng đối với Silas, người có thể tồn tại ở vùng ranh giới giữa thế giới của họ và cái thế giới họ đã để lại phía sau. Thế nhưng, thế nhưng...
Một khu nghĩa địa thường không theo chế độ dân chủ, nhưng cái chết lại là một nền dân chủ vĩ đại, và mỗi người chết đều có tiếng nói cùng ý kiến của riêng mình về việc đứa bé còn sống kia có được phép ở lại đây không, và đêm đó thì ai ai cũng muốn được phát biểu.
Vào tiết thu muộn, trời thường lâu sáng. Dù trời vẫn còn tối, nhưng giờ đã có tiếng xe cộ đi từ dưới đồi lên, và khi người sống bắt đầu lái xe đi làm trong buổi bình minh tối đen mờ sương, thì những người chết lại bàn bạc về đứa bé đã lạc đến chỗ họ và họ nên làm gì với nó. Ba trăm giọng nói. Ba trăm ý kiến. Nehemiah Trot, thi sĩ, đến từ phía Tây Bắc đổ nát của nghĩa địa, bắt đầu hùng hồn trình bày suy nghĩ của mình, nhưng không ai có thể nói được những suy nghĩ ấy là gì vì một việc đã xảy ra; một việc khiến cho mọi cái miệng đang hùng hồn lên tiếng phải câm lặng, một việc chưa từng xảy ra trong lịch sử khu nghĩa địa này.
Một con ngựa trắng khổng lồ, loại mà những người sành ngựa thường gọi là "ngựa xám” đi nước kiệu lên sườn đồi. Trước khi nhìn thấy, người ta đã nghe thấy tiếng vó nện cùng những tiếng rầm rầm khi con ngựa xông qua các bụi rậm nhỏ, xuyên qua đám mâm xôi, trường xuân và kim tước mọc trên sườn đồi. Nó to bằng một con ngựa thồ, ít nhất phải cao mười chín gang tay. Đó là con ngựa có thể chở trên lưng một hiệp sĩ giáp trụ đầy đủ xông vào giữa trận chiến, nhưng trên cái lưng không đóng yên của nó chỉ là một người phụ nữ mặc đồ xám từ đầu đến chân. Chiếc váy dài và khăn choàng của bà nom như được dệt bằng tơ cổ.
Bà có gương mặt hết sức bình thản và thư thái.
Người dân trong nghĩa địa đều biết bà, bởi vì mỗi người trong chúng ta khi cuối đời đều phải gặp Phu nhân Xám, và không ai có thể quên được bà.
Con ngựa dừng lại bên đài tưởng niệm. Bầu trời đằng Đông đang bắt đầu sáng dần lên một ánh hào quang màu ngọc trai, ánh sáng trước bình minh khiến mọi người trong nghĩa địa thấy không yên và chỉ muốn quay về ngôi nhà ấm cúng dễ chịu của mình. Nhưng dù thế vẫn không ai nhúc nhích. Họ chăm chú ngắm nhìn Phu nhân Xám, người nào cũng cảm thấy nửa phấn khích, nửa sợ hãi. Người chết thường không còn mê tín nữa, nhưng họ nhìn bà như một thầy bói La Mã ngắm nhìn đàn quạ linh thiêng chao liệng, tìm kiếm một lời phán bảo thông thái hay một đầu mối nào đó.
Và Phu nhân cất tiếng nói với họ.
Bằng một giọng nói nghe như tiếng hàng trăm quả chuông bạc nhỏ xíu rung lên, Phu nhân chỉ nói, "Người chết cũng cần có lòng nhân hậu." Và bà mỉm cười.
Con ngựa, từ nãy vẫn điềm tĩnh gặm và nhai một búi cỏ dày, bây giờ liền ngừng lại. Phu nhân chạm vào cổ con ngựa, và nó quay đi. Nó bước mấy bước dài, vó nện ầm vang, rồi phóng khỏi sườn đồi phi nước kiệu ngang qua bầu trời. Tiếng vó rầm rầm của nó biến thành tiếng sấm đổ lại từ đằng xa, và chỉ trong thoáng chốc nó đã biến mất.
Ít ra thì đó cũng là những gì mà người dân nghĩa địa có mặt trên sườn đồi vào đêm đó quả quyết là đã xảy ra.
Cuộc tranh cãi thế là kết thúc, và không cần phải biểu quyết, họ đã đi đến một quyết định. Đứa bé tên Nobody Owens sẽ có Quyền Tự do Đi lại Trong Nghĩa địa.
Má Slaughter đi cùng Nam tước Josiah Worthington và ông Owens đến hầm mộ trong nhà thờ cũ, và họ báo tin cho bà Owens.
Bà có vẻ không hề kinh ngạc trước phép màu vừa xảy ra. "Đúng thế” bà nói. "Trong số họ có những người chẳng có lấy được nửa xu trí khôn trong đầu. Nhưng bà ấy thì có. Tất nhiên là bà ấy có."
º º