Câu chuyện nghĩa địa - Chương 3: BẦY KHUYỂN BINH CỦA CHÚA(4)
Bầu trời ở đây đỏ quạch, nhưng không phải màu đỏ ấm áp lúc mặt trời lặn. Đây là màu đỏ nhức nhối, đầy giận dữ, như màu của một vết thương bị viêm tấy. Mặt trời rất nhỏ, nom tựa một vật cổ xưa và xa vời. Không khí buốt lạnh, và chúng đang trèo xuống một bức tường. Bia mộ và đủ các loại tượng nhô ra từ bức tường này, tựa như cả một nghĩa địa khổng lồ đã bị lộn ngược, trong khi Công tước xứ Westminster, Giám mục vùng Bath và Wells, cùng Thẩm phán Archibald Fitzhugh đu mình từ bia mộ này sang bức tượng kia, chẳng khác nào ba con đười ươi nhăn nhúm trong những bộ quần áo đen rách rưới khâu túm lại sau lưng, vừa trèo vừa kéo theo Bod lơ lửng, chuyền nó từ người này sang người kia, không bao giờ để tuột tay, luôn luôn bắt được nó một cách dễ dàng mà không cần phải đưa mắt nhìn.
Bod cố ngước lên để xem có thấy nấm mồ nơi cả bọn đã chui qua để đến với cái thế giới kỳ lạ này không, nhưng nó chẳng thấy gì ngoài hằng hà sa số bia mộ.
Nó tự hỏi không biết có phải mỗi ngôi mộ kia đều là một cánh cửa cho những sinh vật như ba sinh vật đang kéo nó theo đây không...
"Chúng ta đang đi đâu đấy?" nó hỏi, nhưng tiếng nó bị gió thổi bạt đi mất.
Chúng đi mỗi lúc một nhanh hơn. Phía trước mặt, Bod trông thấy một bức tượng mở ra, và hai sinh vật khác từ trong đó tiến vào cái thế giới với bầu trời đỏ ngầu này, trông cũng giống như ba sinh vật đang mang theo Bod. Một con mặc áo dài lụa rách bươm, trước kia có lẽ đã từng có màu trắng, con kia mặc một bộ com lê màu xám bẩn thỉu rộng thùng thình, hai ống tay chỉ còn là hai mớ giẻ tơi tả. Khi trông thấy Bod cùng ba người bạn mới của nó, chúng liền xông đến, nhảy một cú từ độ cao sáu mét mà chẳng hề hấn gì.
Công tước xứ Westminster ré lên một tiếng khàn đục, giả vờ sợ hãi, và Bod cùng ba bọn chúng lao xuống bức tường bia mộ, hai sinh vật mới đến đuổi theo sát nút. Dưới bầu trời đỏ quạch với vầng mặt trời tàn tạ rọi xuống đầu như một con mắt chết, không con nào tỏ ra mệt mỏi hay hết hơi, nhưng cuối cùng chúng cũng dừng lại bên cạnh bức tượng hình một con vật khổng lồ với bộ mặt đã biến thành một cục nấm mốc. Bod được giới thiệu với Tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ và Hoàng đế Trung Hoa.
"Đây là cậu Bod," Giám mục vùng Bath và Wells nói." Cậu ấy sẽ nhập bọn với chúng ta đấy."
"Cậu ấy đang muốn một bữa ăn ra trò” Thẩm phán Archibald Fitzhugh nói.
"Đảm bảo cậu sẽ được ăn uống thỏa thuê khi nhập bọn với chúng ta, cậu bé ạ," Hoàng đế Trung Hoa bảo.
"Chính thế” Tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ đồng tình.
Bod hỏi, "Tôi nhập bọn với các ông? Ý ông là khi tôi biến thành một người như các ông ấy à?"
"Chú nhóc này láu tôm láu cá, khôn ranh lắm, muốn đánh lừa được cậu ấy không dễ đâu” Giám mục vùng Bath và Wells nói. "Đúng thế. Một người trong số chúng ta. Cũng khỏe mạnh, nhanh nhẹn, vô song, chẳng khác nào chúng ta."
"Với hàm răng khỏe đến nỗi có thể nghiền nát bất kỳ khúc xương nào, với cái lưỡi dài nhọn có thể liếm sạch tủy trong cái xương ống sâu nhất, hoặc lột sạch da thịt trên mặt một anh béo."Hoàng đế Trung Hoa nói.
"Có thể lẩn từ bóng tối này sang bóng tối khác, không bao giờ bị trông thấy, không bao giờ bị nghi ngờ. Tự do như không khí, nhanh nhẹn như ý nghĩ, lạnh lẽo như sương giá, cứng rắn như đinh sắt, nguy hiểm như, như chúng ta," Công tước Westminster nói.
Bod nhìn những sinh vật ấy. "Nhưng nếu tôi không muốn trở thành một người trong các ông thì sao?"
"Không muốn ấy à? Tất nhiên là cậu muốn chứ! Còn gì có thể tuyệt hơn được nữa? Ta không nghĩ rằng trên toàn thế vũ trụ này lại có kẻ không muốn được trở thành y hệt như chúng ta."
"Chúng ta có thành phố đẹp nhất..."
"Thành Quỷ” Tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ nói.
"Cuộc đời vui thú nhất, thức ăn ngon lành nhất..”
"Cậu có biết” Giám mục vùng Bath và Wells ngắt lời, "thứ nước đen rỉ ra từ các quan tài bọc chì là thức uống ngon lành đến mức nào không? Hay cậu có thể tưởng tượng được cảm giác sẽ như thế nào khi ta trở nên quan trọng hơn cả vua chúa, hơn cả tổng thống hay thủ tướng hay các anh hùng, khi biết chắc về tầm quan trọng đó, cũng giống như tầm quan trọng của con người khi đem so sánh với cây cải mầm?"
Bod hỏi, "Nhưng các ông là loại người gì?"
"Quỷ nhập tràng," Giám mục vùng Bath và Wells đáp. "Trời ơi, có người đã, chẳng hề chú ý gì cả, phải không nào? Chúng ta,là quỷ nhập tràng."
"Nhìn kìa!"
Dưới chân chúng, cả một đoàn những sinh vật bé nhỏ đang nhảy nhót chạy tới, tiến về lối đi bên dưới và chưa kịp nói nửa lời thì Bod đã bị một đôi tay xương xẩu xốc lên, bị ném qua không trung bằng một loạt những cú nhảy và xô đẩy, trong khi các sinh vật nọ lao xuống để gặp đồng loại của chúng.
Chúng đã xuống đến gần cuối bức tường bia mộ và phía trước hiện ra một con đường, không có gì khác ngoài con đường ấy, một lối mòn đã bị không biết bao nhiêu bàn chân giẫm lên, xuyên qua một vùng đồng bằng trơ trụi, một sa mạc lởm chởm đá và xương cốt, uốn lượn dẫn đến một thành phố nằm cao tít bên trên một ngọn đồi đá đỏ, cách đó một quãng rất xa.
Bod đưa mắt nhìn thành phố ấy và cảm thấy kinh hoàng: bao trùm lên nó là một cảm giác pha trộn giữa ghê tởm với khiếp sợ, giữa kinh hãi với căm ghét, cùng một nỗi choáng váng khôn cùng.
Quỷ nhập tràng không biết xây dựng. Chúng chỉ là những con vật ăn bám, những kẻ bới tìm và ăn xác thối. Cái thành phố mà chúng gọi là Thành Quỷ là nơi chúng đã tìm thấy cách đây rất lâu rồi, chứ không phải do chúng xây dựng nên. Không ai biết (nếu có con người nào biết về sự tồn tại của Thành Quỷ) rằng loại sinh vật nào đã dựng nên những căn nhà ấy, đã đục vào đá những đường hầm và những tòa tháp lỗ chỗ như tổ ong, nhưng có một điều chắc chắn, đó là không ai khác ngoài bọn quỷ nhập tràng lại muốn sống ở đó, hay thậm chí là đến gần nơi đó.
Ngay từ con đường bên dưới Thành Quỷ, ngay từ khi còn ở cách một quãng xa, Bod đã nhận thấy mọi góc cạnh ở thành phố đó đều sai lệch hết - các bức tường đổ xiên đổ xẹo, dường như thành phố ấy được xây dựng nên bởi toàn bộ những cơn ác mộng mà nó từng phải chịu đựng, như một cái miệng khổng lồ với hàm răng chìa ra. Đó là một thành phố được dựng nên chỉ để rồi lại bị bỏ hoang, một thành phố nơi mọi nỗi sợ hãi, điên dại và kinh tởm của những sinh vật đã dựng nên nó đều được tạc vào đá. Bọn quỷ nhập tràng đã tìm thấy nó, thích nó, và gọi nó là quê nhà của chúng.
Quỷ nhập tràng di chuyển rất nhanh. Chúng bò dọc theo lối mòn xuyên qua sa mạc nhanh hơn cả chim kền kền bay, và Bod bị chúng kéo theo, bị xốc cao quá đầu trên những cánh tay quỷ khỏe mạnh, bị ném từ con quỷ này sang con quỷ khác, trong khi nó cảm thấy khổ sở, sợ hãi, và thất đảm, cảm thấy mình thật ngu ngốc.
Trên đầu chúng, giữa bầu trời đỏ lòm, có những sinh vật gì đó đang chao liệng trên những đôi cánh lớn màu đen.
"Cẩn thận đấy," Công tước xứ Westminster nói. "Giấu thằng bé đi. Đừng để bọn dạ điểu bắt được nó. Lũ ăn cắp chết tiệt."
"Đúng thế! Bọn ta ghét lũ ăn cắp!" Hoàng đế Trung Hoa hét lên.
Dạ điểu bay trên bầu trời đỏ rực ở Thành Quỷ... Bod hít một hơi thật sâu, rồi kêu tướng lên, giống như cô Lupescu đã dạy. Nó phát ra một tiếng kêu như tiếng đại bàng, từ sâu trong cổ họng.
Một trong những sinh vật có cánh ấy lao về phía bọn quỷ, lượn xuống thấp hơn, và Bod lại kêu lên, cho đến khi tiếng kêu của nó bị bóp nghẹt bởi một bàn tay rắn như sắt bịt lấy miệng nó. "ừ, đúng đấy, cứ gọi chúng nó xuống đi," Thẩm phán Archibald Fitzhugh nói, "nhưng tin ta đi, phải để cho chúng rữa ra vài tuần thì mới ăn được, với lại chúng chỉ gây phiền nhiễu thôi. Bọn ta và bọn chúng ghét nhau như xúc đất đổ đi ấy."
Con dạ điểu lại bay lên cao trên bầu không khí khô hanh của sa mạc, trở lại với đồng loại của nó, và Bod cảm thấy mọi hy vọng đều tan biến cả.
Lũ quỷ đi nhanh hơn về phía thành phố nằm trên núi đá, và Bod, giờ bị vắt lên vai Công tước xứ West-minster một cách không thương tiếc, bị chúng đưa đi cùng.
Vầng mặt trời đùng đục lặn xuống, và hai mặt trăng mọc lên, một mặt trăng rất lớn, trắng toát, lỗ chỗ miệng núi lửa, lúc mới mọc thì to đến nỗi nom như chiếm quá nửa đường chân trời, nhưng càng lên cao càng nhỏ dần, và một mặt trăng nhỏ hơn, có màu lục lam như màu mốc ở tảng pho mát, và khi trông thấy vầng trăng này, bọn quỷ tỏ ra hết sức vui thích. Chúng dừng chân dựng trại cạnh con đường.
Một thành viên mới nhập bọn - Bod nghĩ đó là con quỷ được giới thiệu với nó bằng cái tên "đại văn hào Victor Hugo" - lôi ra một cái túi chất đầy củi, có mấy thanh vẫn còn nguyên cả bản lề hoặc tay cầm bằng đồng, cùng với một cái bật lửa sắt, và nhanh chóng nhóm lên một đống lửa cho bọn quỷ ngồi quanh nghỉ ngơi. Chúng ngước lên ngắm vầng trăng màu lục lam, xô đẩy nhau để giành lấy những chỗ ngồi tốt nhất bên đống lửa, chửi rủa, thậm chí cào cấu, cắn xé lẫn nhau.
"Chúng ta sẽ ngủ một giấc, rồi khi trăng lặn sẽ lại lên đường đến Thành Quỷ," Công tước xứ Westminster nói. "Chỉ còn một đoạn đường khoảng chín hay mười giờ đồng hồ nữa thôi. Đến lần trăng mọc tiếp theo thì chúng ta sẽ đến nơi. Rồi chúng ta sẽ tổ chức liên hoan nhỉ? Để đón mừng cậu nhập bọn với chúng ta!"
"Sẽ không đau đâu," Thẩm phán Archibald Fitzhugh nói, "không đau đến mức không chịu được. Và sau đó, thử nghĩ mà xem, cậu sẽ vui thú biết bao."
Rồi chúng bắt đầu kể đủ thứ chuyện về việc làm quỷ nhập tràng thì sung sướng tuyệt vời đến mức nào, về những thứ chúng đã nhai nuốt bằng bộ răng khỏe của mình. Một con trong bọn nói chúng hoàn toàn miễn dịch với bệnh tật. Cho dù con mồi của chúng có chết vì bệnh gì thì chúng vẫn có thể nhai tuốt tuột. Chúng kể về những nơi chúng đã đến, chủ yếu là các hầm mộ và vùng có dịch bệnh. ("Ở các ổ dịch có nhiều thức ăn ngon lắm” Hoàng đế Trung Hoa nói, và cả bọn đều đồng ý). Chúng kể với Bod chúng đã lấy được tên của mình như thế nào, và nói rằng đến lượt Bod, khi đã biến thành một con quỷ nhập tràng vô danh, cũng sẽ được đặt tên như chúng.
"Nhưng tôi không muốn biến thành một người như các ông," Bod nói.
"Bằng cách này hay cách khác thì cậu cũng sẽ biến thành một người trong số chúng ta thôi," Giám mục vùng Bath và Wells vui vẻ nói. "Cách kia rắc rối hơn, vì cậu sẽ bị tiêu hóa, và cậu sẽ không thích thú chuyện ấy cho lắm đâu."
"Nhưng nói chuyện ấy thì chẳng hay ho gì", Hoàng đế Trung Hoa tiếp. "Thích nhất là làm quỷ nhập tràng. Chúng ta chẳng sợ gì hết!"
Nghe vậy, bầy quỷ ngồi quanh đống lửa nhóm bằng gỗ quan tài liền hú lên, gào thét, rú rít, tự tung hê nhau rằng bọn chúng mới thông thái làm sao, mạnh mẽ làm sao, và thật tuyệt làm sao khi không phải sợ bất kỳ điều gì.
Đúng lúc ấy một âm thanh vang lên từ phía xa trong sa mạc, một tiếng hú xa xăm khiến bọn quỷ run cầm cập và co rúm lại gần đống lửa hơn.
"Cái gì thế?" Bod hỏi.
Bầy quỷ lắc đầu. "Chỉ là một thứ trên sa mạc thôi” một con thì thào. "Im lặng! Nó nghe thấy chúng ta mất!"
Và tất cả bọn quỷ đều im lặng trong chốc lát, cho đến khi chúng quên mất con thú trên sa mạc kia, và bắt đầu hát bài ca của lũ quỷ, đầy những từ ngữ bậy bạ và những cảm nghĩ ghê tởm, mà bài chúng thích nhất chỉ là một danh sách những phần cơ thể thối rữa và thứ tự để xem nên ăn phần nào trước.
"Tôi muốn về nhà” Bod nói, khi chúng hát hết đoạn cuối. "Tôi không muốn ở đây nữa."
"Đừng có hoảng lên thế chứ” Công tước xứ West-minster nói. "Chú nhóc này, ta hứa là ngay khi trở thành một người trong bọn ta thì cậu sẽ chẳng còn nhớ là mình đã từng có nhà nữa kia."
"Ta chẳng nhớ gì về quãng thời gian trước khi ta biến thành quỷ nhập tràng” đại văn hào Victor Hugo
"Ta cũng vậy” Hoàng đế Trung Hoa tự hào nói.
"Ta cũng chẳng nhớ gì sất” Tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ họa theo.
"Cậu sẽ được làm thành viên của một nhóm chọn lọc gồm những sinh vật thông thái nhất, mạnh mẽ nhất, dũng cảm nhất trên đời” Giám mục vùng Bath và Wells huênh hoang.
Bod chẳng thấy ấn tượng chút nào với lòng can đảm hay trí khôn của bọn quỷ. Nhưng đúng là chúng rất khỏe, nhanh nhẹn một cách kỳ dị, và nó đang ở giữa cả một bầy quỷ. Nó sẽ không thể chạy thoát. Chưa chạy nổi mười thước thì có thể nó đã bị chúng bắt kịp.
Đâu đó xa xa trong màn đêm, một con gì đó lại hú lên, và bầy quỷ nhích đến gần đống lửa hơn. Bod nghe thấy chúng khịt khịt mũi và chửi thề. Nó nhắm nghiền mắt lại, cảm thấy vô cùng khổ sở và nhớ nhà: nó không muốn bị biến thành quỷ nhập tràng. Nó không hiểu làm sao mình có thể ngủ được trong cảnh tuyệt vọng khôn cùng như thế này, thế nhưng, nó ngạc nhiên khi thấy mình vẫn ngủ thiếp đi được khoảng hai, ba tiếng.
Một tiếng động làm nó thức dậy - một tiếng động mạnh, sát gần, có vẻ hoảng sợ. Ai đó đang hỏi, "Thế nào, chúng nó biến đi đâu rồi? Hử?" Nó mở mắt ra, trông thấy Giám mục vùng Bath và Wells đang quát mắng Hoàng đế Trung Hoa. Có vẻ như trong đêm, một vài tên trong bầy quỷ đã biến mất không một dấu vết, và không con quỷ nào có thể giải thích được tại sao.
Những con quỷ còn lại đều hết sức căng thẳng. Chúng nhanh chóng nhổ trại, và Tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ xốc Bod lên, ném nó lên vai mình.
Bọn quỷ loạng choạng đi xuống vách đá để quay lại con đường, bên dưới bầu trời đỏ ngầu màu máu bị nhiễm độc, và tiến về phía Thành Quỷ. Sáng nay chúng có vẻ kém vui hơn hẳn. Giờ đây chúng dường như đang chạy trốn một cái gì đó - ít ra là Bod thấy thế, khi nó bị vác lắc lư trên vai tên quỷ.
Giữa trưa, khi vầng mặt trời mờ đục đã lên đến đỉnh đầu, bọn quỷ liền dừng chân co cụm lại với nhau. Trước mặt chúng, chao liệng trên luồng hơi nóng, là một bầy dạ điểu hơn chục con, đang bay lượn trong làn không khí ấm.
Bọn quỷ liền chia thành hai phe: một phe nghĩ rằng việc đồng bọn của chúng biến mất chẳng có ý nghĩa gì, một phe thì lại cho rằng một thứ gì đó, có lẽ là bọn dạ điểu kia, đang bám theo hòng tiêu diệt chúng. Bọn quỷ không đi đến một kết luận chung nào, chỉ nhất trí rằng chúng nên nhặt đá làm vũ khí để ném nếu bầy dạ điểu hạ cánh xuống, và chúng liền nhặt sỏi đá trên sa mạc nhét đầy túi áo.
Một thứ gì đó lại cất tiếng hú ở khoảng sa mạc phía bên trái chúng, và bọn quỷ đưa mắt nhìn nhau. Tiếng hú này vang to hơn tiếng hú đêm qua,nghe có vẻ gần hơn, một tiếng hú trầm trầm như tiếng chó sói.
"Mày có nghe thấy gì không?" Thị trưởng thành London hỏi.
"Chẳng nghe thấy gì sất” Tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ đáp.
"Tao cũng không," Thẩm phán Archibald Fitzhugh nói.
Tiếng hú lại vang lên.
"Chúng ta phải về nhà thôi," Công tước xứ West-minster vừa nói vừa nhấc một tảng đá lớn lên.
Thành phố Quỷ đáng sợ vươn lên trên một gờ đá cao trước mặt chúng, và bọn quỷ lao về phía đó.
"Bọn dạ điểu đang đến đấy!" Giám mục vùng Bath và Wells kêu lên. "Ném đá vào lũ chết giẫm ấy đi!"
Lúc này trong mắt Bod mọi thứ đều lộn ngược, trong khi nó nảy lên nảy xuống trên lưng Tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ và bị cát sỏi trên đường bắn đầy vào mặt. Nhưng nó nghe thấy những tiếng kêu giống tiếng đại bàng, và Bod lại dùng tiếng dạ điểu để kêu cứu. Lần này thì không con quỷ nào bịt miệng nó lại nữa, nhưng nó không chắc ai đó có thể nghe thấy tiếng nó kêu giữa tiếng gào thét của bầy dạ điểu và tiếng chửi rủa của lũ quỷ trong khi chúng ném đá tới tấp lên không trung.
Bod lại nghe thấy tiếng hú nọ: bây giờ tiếng hú vang lên từ phía bên phải.
"Có đến hàng chục con dạ điểu chết tiệt ấy," Công tước xứ Westminster rầu rĩ nói.
Tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ trao Bod cho đại văn hào Victor Hugo, con quỷ này tống thằng bé vào cái túi của mình rồi vắt cái túi lên vai. Bod chỉ có thể lấy làm mừng là cái túi không có mùi gì khác ngoài mùi gỗ bụi bặm.
"Chúng đang rút lui đấy!" một tên quỷ kêu lên. "Nhìn chúng kìa!"
"Cậu đừng có lo nhé," một giọng nói vang lên bên cạnh cái túi, nghe giống giọng Giám mục vùng Bath và Wells. "Một khi chúng ta đã đưa cậu đến được Thành Quỷ thì sẽ không còn những chuyện vớ vẩn này nữa đâu. Thành Quỷ là một thành phố bất khả xâm phạm."
Bod không biết có con quỷ nào bị giết hay bị thương trong lúc đánh nhau với bầy dạ điểu hay không. Bằng vào những lời chửi rủa của Giám mục vùng Bath và Wells, nó đoán là có thêm vài con quỷ nữa đã chạy mất.
"Nhanh lên!" một con quỷ khác, có lẽ là Công tước xứ Westminster, kêu lên, và bọn quỷ liền lao đi. Bod nằm trong túi cảm thấy rất khó chịu vì cứ liên tục bị va vào lưng đại văn hào Victor Hugo đau điếng, thỉnh thoảng lại đập cả xuống đất nữa. Mọi sự càng tệ hơn khi ở trong túi cùng với nó vẫn còn mấy mẩu gỗ, đó là chưa kể đến những đinh vít sắc nhọn, những gì còn lại của thứ củi làm từ quan tài. Một cái đinh vít nằm ngay dưới tay Bod, đâm vào da thịt nó.
Mặc dù bị xóc nảy người, lắc mạnh và xô đẩy theo mỗi bước chạy của con quỷ đang mang nó trên lưng, Bod vẫn tìm cách nắm được cái đinh vít bằng tay phải. Nó sờ soạng cái mũi đinh nhọn hoắt. Trong thâm tâm, nó khấp khởi hy vọng. Rồi nó xuyên mũi đinh qua lớp vải túi ở sau lưng, dùng mũi đinh đâm thủng vải, đoạn rút đinh ra và đâm thêm một lỗ nhỏ nữa, bên dưới lỗ đầu tiên.
Sau lưng mình, Bod nghe thấy một tiếng hú nữa, và nó chợt nghĩ ra rằng một thứ có thể khiến bọn quỷ nhập tràng khiếp hãi đến thế thì hẳn phải đáng sợ hơn nó tưởng nhiều, và nó dừng mũi đinh lại trong chốc lát - giả thử nó thoát ra khỏi cái túi và rơi vào miệng một con quái vật khủng khiếp nào đó thì sao? Nhưng ít ra, Bod tự nhủ, nếu chết thì nó sẽ vẫn được là chính mình, cùng với mọi ký ức của nó, nhớ được bố mẹ mình, nhớ được chú Silas, thậm chí là cả nhớ được cô Lupescu nữa.
Như thế thì tốt hơn nhiều.
Nó lại dùng chiếc đinh đồng xuyên qua lớp vải túi, chọc và cào cho đến khi làm thủng một lỗ nữa.
"Tiến lên anh em!" Giám mục vùng Bath và Wells kêu lên. "Chỉ lên hết mấy bậc thang kia là chúng ta sẽ về đến Thành Quỷ an toàn!"
"Hoan hô ngài Giám mục!" một tên quỷ khác reo to, có lẽ là Thẩm phán Archibald Fitzhugh.
Bây giờ thì cử động của tên quỷ mang Bod trên lưng đã thay đổi. Nó không đi thẳng về phía trước nữa, mà đã đổi sang một loạt cử động khác, lên dốc rồi đi tới trước, lên dốc rồi lại đi tới trước.
Bod thọc tay qua túi, chọc lấy một cái lỗ đủ để nhìn qua. Nó nhìn ra ngoài, trên nó là bầu trời đỏ ngầu, u ám, còn bên dưới...
... nó có thể trông thấy sa mạc, nhưng giờ sa mạc đã nằm dưới chân nó, cách cả chục mét. Đằng sau nó là những bậc thang trải dài, nhưng đó là các bậc thang đục cho người khổng lồ, còn bên phải nó là một vách đá màu đỏ son. Từ vị trí này Bod không nhìn thấy Thành Quỷ, nhưng nó đoán hẳn thành phải đang nằm trên đầu chúng. Bên trái nó là một vực thẳm dốc đứng. Nó quyết định sẽ phải nhảy thẳng xuống những bậc thang kia, và hết lòng hy vọng rằng bọn quỷ, trong lúc sốt ruột mong sớm về đến nhà để được an toàn, sẽ không biết nó đã bỏ chạy. Cao tít bên trên, nó trông thấy bầy dạ điểu bay lùi lại một quãng, chao liệng trên bầu trời đỏ lừ.
Nó rất mừng khi thấy không có con quỷ nào khác đằng sau mình: đại văn hào Victor Hugo đi bọc hậu, và phía sau nó không có ai để đánh động cho lũ quỷ biết về cái lỗ đang to dần trên chiếc túi. Hoặc là trông thấy Bod khi nó rơi ra.
Nhưng lại có một vật khác...
Bod bị xóc nảy người sang bên, xa khỏi cái lỗ. Nhưng nó đã trông thấy một vật màu xám khổng lồ trên những bậc thang bên dưới, đang đuổi theo chúng. Nó có thể nghe thấy một tiếng gầm gừ dữ dằn.
Ông Owens có một câu ngạn ngữ dùng để chỉ hai vật cùng khó chịu như nhau. "Ta đang rơi vào cảnh tiến lên mắc núi, lùi lại mắc sông” ông thường nói vậy. Bod vẫn băn khoăn không hiểu như thế nghĩa là gì, vì cả đời sống trong nghĩa địa, nó chưa từng được nhìn thấy núi cũng như sông.
Mình đang rơi vào cảnh tiến lên mắc quỷ, lùi lại mắc quái, nó nghĩ.
Nó vừa nghĩ xong thì một hàm răng sắc nhọn như răng chó ngoạm lấy cái túi và kéo cho đến khi lớp vải túi rách ra, dọc theo những cái lỗ mà Bod đã chọc thủng, và thằng bé ngã lộn nhào xuống những bậc đá, ở đó có một con vật màu xám khổng lồ, giống như chó nhưng to lớn hơn nhiều, đang gầm gừ, miệng nhỏ nước dãi, đứng chắn lấy Bod, một con vật với cặp mắt sáng lóe, răng nanh trắng ởn, bàn chân kếch xù.