Bí Ẩn Làng Bưởi Cuốc - Chương 63: Gò đất Đầu Rùa
Bác tôi, chính xác tôi gọi là bác rể vì bác ấy là chồng của chị ruột mẹ tôi. Bác ấy tên N., là một cựu chiến binh đã trải qua hai cuộc chiến, gồm kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh biên giới Tây Nam với quân Khmer Đỏ. Như tôi được biết, khi còn trẻ bác học rất giỏi, nhà con một, học hết lớp 10 thì xung phong đi bộ đội Nam tiến, nhập ngũ đầu năm 1972. Đi cùng đợt với bác có chín người khác trong làng thì có đến năm người hy sinh khi chỉ mới đặt chân vào đến đất Quảng Trị, bốn người bị sốt rét rừng trong đó có bác N., còn một người đi trước vào chiến trường B sau vài trận đánh thì bị thương mất trí nhớ, may có đồng bào dân tộc cứu giúp nên định cư một thời gian dài trên Đắc Nông. Bác N. sốt rét nằm ở bệnh viện dã chiến thì có lời ra tiếng vào cho rằng bác sợ chết giả bệnh nên không được chăm sóc kĩ càng, may đến khi người ta tra lý lịch quân nhân mới biết là trình độ tốt nghiệp lớp 10, nhà con một và đơn xung phong đi bộ đội được viết bằng máu nên mới cứu chữa. Hoàn cảnh thời đó là vậy, chiến tranh ác liệt quá nên cũng không thể tránh được những suy nghĩ tiêu cực, vì thế Quân đội với kỉ luật thép đã phải có những cách làm phù hợp.
Bác N. sau khi khỏi bệnh cũng vào được chiến trường B rồi đi học thêm lên sĩ quan do có trình độ, đến năm 1981 đeo hàm Đại uý quân nhu, thuộc sự chỉ huy của tướng Kim Tuấn. Thời ấy truy quét tàn quân Khmer Đỏ, sau khi bác N. chết hụt mấy lần khi đoàn xe vận tải vướng phải mìn cài bên đường hoặc đám Khmer Đỏ phục kích thì gia đình ở nhà gồm vợ, một con gái và mẹ già liên tục gửi thư giục về cho nên bác ấy phải giải ngũ khi chỉ còn hai tháng nữa là tròn mười năm quân ngũ. Đi chiến trường B hay K tôi được biết là sẽ nhân đôi số tuổi quân và nếu như có trên hai mươi năm công tác trong quân đội, sau này sẽ có nhiều chính sách ưu đãi. Nhưng thường tôi thấy đấy là suy nghĩ của người dân sống trong hoà bình chứ với người lính, điều quý giá nhất với họ là được trở về với gia đình toàn vẹn, những thứ vinh hoa nếu có thì cũng tốt nhưng không có ý nghĩa gì trước mũi tên hòn đạn không có mắt.
Bố vợ tôi cũng là một người lính, ông cụ để lại một phần cơ thể của mình ở chiến trường khu 5 khi bảo vệ đồng đội bị thương rút lui trong trận pháo kích, còn mẹ vợ tôi, người phụ nữ nhỏ bé miền Trung, cũng mang theo trong thân mình nhiều mảnh đạn. Tôi thấy điểm chung của người lính đi qua chiến tranh là họ ít nói về những chiến công, họ chỉ nói về những đồng đội đã hy sinh và họ may mắn như thế nào khi còn sống, phần lớn những cựu chiến binh mà tôi biết đều ít nói và không giàu có kể cả họ có quyền lực trong tay, tôi yêu thích Quân đội Việt Nam là vì thế.
Bác N. lúc này đang là Bí thư kiêm trưởng thôn, vẫn đạp xe lọc cọc đi họp với cái cặp da màu đen và cái mũ cối, quần xắn vành nồi và đi dép rọ, ngày mùa vẫn giúp vợ con như thường, bác có dáng người nhỏ thó nhưng tính cách thì đúng chất bộ đội, rất nghiêm nghị. Khi nghe tin tức ấy bác N. bảo với mấy anh dân quân phải chú ý việc này, cần phải có kế hoạch tuần tra và điều tra xem tại sao lại có pháo nổ vào ban đêm. Mấy anh dân quân thì tôi biết mặt hết, cậu tôi cũng là dân quân mà, ngồi ăn cỗ tôi đứng gần nghe các anh ấy nói chuyện và xin xỏ được đi tuần cùng, việc này không có gì quá khó nên các anh ấy đồng ý, còn với tôi, tôi nhớ đến khẩu súng CKC với vài viên đạn màu đồng sáng loáng mà anh tổ trưởng hay đeo, tôi cũng được cầm mấy lần rồi, đã lắm, đồ chơi bằng nhựa không bao giờ có cửa để so sánh, không có một chút nào luôn. Cái khẩu CKC ấy còn có một con dao găm bóng loáng và dài, nghe nói là sử dụng khi hết đạn và lao vào cảm tử với quân thù, tôi không thích con dao đó lắm vì bắn nhau tốt nhất là phải tính toán cho đủ đạn chứ, nhỡ đâu cầm súng lao đến giặc nó còn đạn nó bắn chết mình thì làm gì còn lần sau mà chiến đấu.
Mấy tối sau đó đúng là dân quân đi tuần thật, chia theo ngày mỗi ngày ba người, được trang bị một khẩu súng CKC cùng bảy viên đạn và hai cái gậy dài chừng hơn một mét, các anh ấy đi tuần bằng xe đạp quanh làng, tôi có xin đi cùng được một tối và nài nỉ được cầm súng nhưng chỉ một tối đó thôi rồi tôi chán vì súng chả được bắn thì cầm rất mệt hơn nữa đi tuần làm sao mà thấy được gì lạ vì cái thằng ném pháo cũng đi tuần, mà nếu có người lạ làm việc ám muội ắt hẳn tôi sẽ được biết ngay thôi. Nhưng không có súng thật thì tôi có súng khác, tôi nghĩ ra một cách rất hay, thật sự hay nhưng phải đi mượn. Tôi đi gặp R9 và hỏi nó có biết bắn chim không, tiếc rằng nó không biết bắn nhưng nó lại chỉ cho một đứa có súng bắn chim rất đẹp nên tôi đi tìm hỏi mua.
Quả thật mỗi người đều có những hoa tay và khả năng đặc biệt, tôi gặp thằng Ngh., nó có súng cao su bắn chim làm bằng chạc của một cành ổi, dây chun màu đỏ còn cái chỗ kẹp viên sỏi được làm từ da trâu luôn, tôi thực sự gật gù vì cái súng cao su của nó. Tôi đề nghị mua, khi giá đề nghị lên đến Ba mươi lăm nghìn thì nó mới đồng ý bán, tôi hí hửng mang súng về nhà và tập bắn thử. Tôi rất ưng, dĩ nhiên tôi không mua về để bắn chim, tôi không có khả năng thiện xạ như vậy và tôi cũng không thích nhìn con gì đó chết. Tôi nghĩ rằng mấy quả pháo cối sau khi được châm mà dùng cái súng cao su đẹp như này bắn thì hẳn sẽ nổ trên cao, tôi không cần chính xác, tôi cần pháo nổ ở trên cao hoặc xa vì có ném tốt đến mấy cũng chỉ được ba bốn chục mét là nhiều.
Tôi tập bắn mấy ngày, thường tôi chọn mấy cục đất hoặc sỏi và mỗi chiều ra phía sau nhà bắn xuống ao, bắn qua bụi tre… vào các điểm mốc mà tôi tự chọn, phía sau vườn nhà tôi rất vắng, có một cái ao rộng sau nhà rồi đến một luỹ tre, tiếp đến là một cái ao khác rồi lại luỹ tre, đợt trước tôi từng ném một quả lựu đạn nổ tung toé ở phía luỹ tre trước mặt, chả ai biết thủ phạm ngoài tôi. Sau khi hài lòng với khả năng thiện xạ bách phát bách trượt của mình thì tôi lại tìm cách gặp cái thằng nhóc bán pháo lần trước và rất kín đáo mua thêm được thêm hơn mười quả, kho vũ khí trang thiết bị hiện đại của tôi cũng được bổ sung thêm một cái ống nhòm “xịn” hơn khi tôi nhờ em trai tôi mua hộ, tiền bạc không thành vấn đề vì tôi hiện đang giàu có, và vì sự rộng rãi của mình thì tôi đã nhanh chóng có cái ống nhòm sơn rằn ri, khoảng gần một trăm nghìn. Điều tôi băn khoăn nhất vẫn là việc thu âm không có kết quả khả quan nào, toàn thu được âm thanh của ếch, nhái, chão chuộc… kêu vào ban đêm, không có một chút tính răn đe nào cho nên tôi đành phải quay lại với kế hoạch ban đầu đó là cắt các đoạn băng cải lương những đoạn người ta ngân nga thành từng đoạn nhỏ sau đó dùng thước kẻ làm xước rồi gấp nhàu làm sao để đạt hiệu ứng cao. Lần này, trình độ của tôi lên cao hơn, tôi đã nghĩ ra cách dán các đoạn băng bị méo âm thanh đó vào cuộn băng trắng, tôi tính toán để cuộn băng chạy một đoạn chừng gần ba phút thì mới tới đoạn âm thanh ghê rợn tôi tự tạo ra, kinh nghiệm chỉ cho tôi biết là tôi cần thời gian để chạy trốn hoặc ẩn nấp thì mới đến khúc âm thanh đó nếu không tôi sẽ dễ dàng bị phát hiện. Nhớ lại phi vụ đầu tiên trên cành cây tôi thấy rằng cái đài này xịn nhưng quá nặng và cồng kềnh, không tiện cho việc ẩn nấp nên tôi đã mua một cái đài cát – sét loại nhỏ rẻ tiền, loại rẻ nhất có thể vì tôi không có nhu cầu để nghe và cũng ít dùng, chỉ dùng khi hành động mà thôi.
Trong suốt nửa tháng kể từ sau đám cưới của cậu Út tôi chỉ có làm vài việc: ăn, ngủ, đi học, tập bắn súng cao su, chế tạo những thứ vũ khí hiện đại, trang bị ống nhòm, đèn pin và pháo cối. Tôi tự tin rằng mình đang sở hữu một kho vũ khí khá “chất” và sẽ phát huy tính hiệu quả, đặc biệt là vào ban đêm. Sở dĩ tôi phải chuẩn bị kĩ như vậy vì nửa tháng trước đó chị Ma có cảnh báo sự nguy hiểm, tôi không muốn nguy hiểm xảy ra với mình, tôi là cháu đích tôn cơ mà, nên tôi sẽ phải chuẩn bị kĩ càng để giảm thiểu rủi ro.
Sống được tám mươi sáu tuổi và sống đến tám mươi sáu tuổi lành lặn là không giống nhau.
Tôi thấy cái khăn màu đen của bà Già không phù hợp nữa nên cũng đã mua một cái mũ len màu xanh sẫm, loại mũ này tôi thấy chỉ có hai màu là xanh và đỏ, màu đỏ phần do tôi không thích và nếu đi ban đêm sẽ dễ bị phát hiện, loại mũ len trùm đầu này chỉ hở hai con mắt và phía trên có một cái núm tròn tròn, tôi phải cắt cái núm đó đi vì trông buồn cười quá, như trẻ con. Mặc dù tôi cũng vẫn là trẻ con thôi nhưng tôi thấy mình cũng lớn nhiều rồi, trẻ con thì đứa nào cũng muốn trở thành người lớn cả. Mấy trăm nghìn nhặt được tiêu mãi không hết, tôi chợt nhận ra rằng có nhiều tiền và không có tiền cũng chả khác nhau mấy, đều đau đầu cả. Lúc không có tiền tôi muốn mua nhiều thứ mà lúc có tiền thì lại không biết nên mua cái gì trước bởi vậy tôi mới sử dụng số tiền đó vào việc mua sắm trang thiết bị, cho tất cả vào thùng mì tôm và cất giấu dưới gầm tấm phản gỗ, tuyệt đối không được để bà Già phát hiện ra.
Đêm ngày mùng Năm, tháng Mười một, năm 1996.
Ánh trăng rất thật tuy chỉ mới là hình lưỡi liềm, tôi nhớ rõ là vì chiều hôm ấy tôi còn đi dự sinh nhật của con bé lớp phó, hình như là tôi không có tặng món quà nào thì phải, hoặc có mà tôi cố tình quên, nhưng nếu có thì chắc là một quyển truyện đầy chữ của ông Nguyễn Nhật Ánh mắt cận tóc nghệ sĩ ở bìa sau. Tôi không biết con bé lớp phó ấy có thích món quà đó hay không, nhưng tôi thích là được, tôi mua và đã đọc xong rồi, tôi đã cố gắng đọc rất cẩn thận để nó không biết đó là một cuốn sách đã bị “bóc tem”. Tôi không áy náy gì lắm vì cũng không có vấn đề gì, chỉ là đọc trước thôi mà, có thiệt hại cái gì đâu.
– Này!
Tôi nghe âm thanh quen thuộc lẫn trong tiếng gió nhẹ khi đang ngồi nghe đài ngoài hiên, vừa mới tới tiết mục “Đọc truyện đêm khuya” trên Đài tiếng nói Việt Nam, tôi vặn nhỏ đài lại rồi đứng lên đi ra khu vườn nhà mình.
– Có tin gì hả chị?
– Có rồi, thông tin đầy đủ.
– Chị hay thật đấy, tin tức mấy lần chị đưa cứ như là ngồi bên cạnh họ nghe vậy.
Chị Ma khẽ cười đắc ý, hai tay chống lên hai bên hông, bộ váy màu đỏ cứ bay phất phơ trong gió.
– Chị đã chết đủ lâu, mấy đứa ranh con ấy làm sao qua mắt được chị. Em nghe rõ nhé, khuya ngày mùng Chín Âm lịch, dự tính là nửa đêm chúng nó sẽ bắt đầu tiến hành đào bới, chôn đồ và vài việc khác nữa.
– Lại chôn những thứ giống như lần trước hả chị?
– Có thể, nhưng lần này số người đi sẽ đông hơn, gần mười người.
– Sao đông thế? Hay em báo dân quân làng em bắt bọn chúng?
– Trong nhóm này có một đứa là thầy phù thủy, nó có nuôi ma xó và cả âm binh nên có người biết là chúng sẽ rút ngay.
– Còn em thì sao ạ?
– Sẽ có cách, chị sẽ giúp em. Những cái lá lần trước mà em mang theo sẽ giúp em ẩn đi toàn bộ “dương khí” của bản thân, sẽ làm em giống như vô hình, ma xó hay âm binh rất khó phát hiện ra, còn nếu là con người thì phải có duyên mới nhìn thấy em. Nhớ rằng lá phải ngậm lên miệng, cho dù thấy cái gì cũng không được làm rơi cái lá ra, sẽ rất nguy hiểm.
Tôi gật đầu ghi nhớ chi tiết này.
– Chị không thể xuất hiện giúp em được, khi chị giúp em thì thằng thầy phù thủy đó sẽ phát hiện ra trong làng này có Thần giữ của, sau này còn phức tạp hơn nhiều. Kỳ này nếu gặp đại nạn thì vạn bất đắc dĩ cứ đọc cái gì mà em đã được dạy.
Tôi hít một hơi thật sâu, sự việc có vẻ nghiêm trọng thật.
– Chiều mai em đi ra cánh đồng phía Tây theo lối ngõ nhà mình, đi thẳng luôn qua lối khu Tây, từ đường ven làng ở mé đó đi ra tới gần cánh đồng ngô, em sẽ thấy một gò đất cao có hình đầu rùa, ở đó có một bãi phân trâu, trên bãi phân trâu ấy có cắm một cái que đó chính là điểm đánh dấu nơi bọn chúng sẽ đào đất và bỏ thứ gì đó xuống. Cũng giống như những lần trước, tuyệt đối không được để cái thứ được chôn dưới đất đó quá hai canh giờ. Sau hai canh giờ sẽ không còn tìm thấy được nữa.
– Nửa đêm liệu có phải là “giờ Tý ba khắc” không chị?
– Khoảng giờ đấy, “âm khí” mạnh thường sẽ tốt cho công việc ám muội.
– Em có thể đuổi chúng nó đi theo cách của em hay không?
Chị Ma không trả lời ngay mà bay lên đỉnh ụ rơm nhìn trăng, hồi lâu chị mới nói:
– Những thứ em làm thần không biết, quỷ không hay. Chị tin ở em, những thứ em đang làm giúp ích cho rất nhiều hồn ma vất vưởng ở cái làng này. Nếu chúng thành công thì rất nhiều vong hồn sẽ bị bắt đi, linh khí của làng cũng sẽ hao tổn đi nhiều và cuối cùng, chúng sẽ tìm cách đào hết tất cả các ngôi miếu trong làng này lên. Ngoài bãi tha ma của làng mấy đêm trước cũng có đám ma xó đến thám thính đã bị Thổ Thần phát hiện đuổi đi.
Tôi im lặng nghe, thi thoảng tôi ngước nhìn lên ánh trăng đang bị che khuất bởi cái bóng váy đỏ thoắt ẩn thoắt hiện.
– Còn nữa, khuya ngày mùng Mười, khoảng cuối giờ Hợi, đầu giờ Tý nếu em ra đầu làng sẽ gặp lại kẻ lạ mặt hôm trước đi ngược lại với hướng lần trước. Bóng dáng mà em nhìn thấy sẽ khác so với bóng dáng bình thường của nó, nhưng hãy làm giống như lần trước, sẽ không có điều gì xảy ra. Việc duy nhất của em là quan sát, nhớ lấy hình dáng và tuyệt đối không được kể điều này với bất kì ai trước khi em tròn mười tám tuổi. – Chị Ma ngưng lại trong giây lát.– Nếu hở miệng ra dễ có họa sát thân.
– Vậy em có nên đi xem không ạ?
– Xem nhiều biết nhiều mà biết nhiều và thông minh thì ít họa.
– Vâng ạ.
– Giờ Dậu của mỗi ngày chị sẽ chỉ cho em mang theo thứ gì, nhớ không được đánh rơi khỏi miệng nghe không?
– Em nhớ rồi.
Chị Ma xoay người hạ dần xuống khỏi đỉnh ụ rơm và nhìn tôi, ánh mắt tôi thấy rất lạ:
– Sẽ có những lúc chị không thể bảo vệ em hay là không thể nhắc nhở em được thì em phải nhớ tất cả những gì chị đã dặn nghe chưa nào?
Tôi không biết nên trả lời như thế nào cho đúng, chớp mắt mấy cái rồi tôi mới mím môi gật đầu một cách kiên quyết.
– Em trai ngoan, đi ngủ sớm đi.
Chị Ma biến mất, tôi vội vàng chạy vào nhà ghi lại tất cả những gì vừa nghe, tôi sợ rằng mình quên nên ghi xong tôi phải lấy bút bi đỏ gạch chân những từ mà tôi cho là quan trọng, sau thì tôi gạch chân cả trang và ghi rõ to: Phải nhớ hoặc là chết! Tôi phải ghi như vậy cho nhấn mạnh sự nguy hiểm.
Tôi cũng đã có ý định sẽ rủ một đứa nào tham gia phi vụ này nhưng sau khi cân nhắc kỹ lại bỏ qua vì chưa biết có chuyện gì sẽ xảy ra, mà nếu đứa nào tham gia cùng cũng sẽ dễ bị phát hiện. Lần này đội người lạ có cả thầy phù thủy đi cùng không rõ để làm gì, nhưng tôi nhớ lại câu chuyện của bà tôi đã từng kể về việc điều khiển âm binh tát nước, vậy âm binh đó có như cái ông Hổ Quân không? Hổ Quân có phải là âm binh không? Những câu hỏi như vậy tôi đã ghi vào nhật ký nhưng chưa có câu trả lời, tôi không hiểu âm binh là như thế nào nữa.
***
Như đã được hướng dẫn, chiều hôm sau tôi đạp xe đi xuyên qua khu Tây, phải nói thật là khu này tôi ít đến vì cây cối quá um tùm và phải đến chín mươi phần trăm nhà là bỏ hoang, nhà xây dở không có nóc, tôi không sợ nhưng một đứa trẻ thì đến đây chơi cái gì chứ? Đạp đến con đường đất bao quanh khu Tây thì tôi dừng xe rồi dựng sát vào một bụi tre, tay đứng chống nạnh nhìn ngó xung quanh, đồng ruộng ở khu vực này không bằng phẳng như ở hướng Đông nhà tôi, phía xa xa có mấy gò đất và bãi ngô xanh mướt, tôi thẳng tiến về hướng đó tìm kiếm thứ mình cần tìm.
Từ con đường ven làng tôi đi thẳng ra chừng hơn hai trăm mét thì có một gò đất, không cao lắm nhưng rộng, tôi đứng trên đỉnh gò và nhìn ngó xung quanh để tìm bãi phân trâu nhưng chẳng có bãi phân nào, tôi tìm đến hai ba lần đều không thấy, gò đất toàn cỏ may và vài cây hoa dại mọc sát dưới đất, tôi cúi xuống hái vài bông hoa xuyến chi màu trắng có năm cánh, tôi cầm trên tay xoay tròn còn mắt thì vẫn nhìn xung quanh tìm kiếm. Tôi chưa bao giờ đứng nhìn làng mình từ hướng Tây như thế này, từ xa tít phía Nam nơi có con mương lớn và đường Quốc lộ 17 cho đến tận mạn phía Bắc của làng đều là một màu xanh của tre, thấp thoáng ở hướng mười giờ tôi nhìn thấy lũy tre của nhà bà ngoại, ở rất xa, phải đến năm trăm mét hoặc hơn.
Tôi nhìn lướt qua lướt lại và bỗng nhiên tôi phát hiện ra một gò đất nhỏ, tôi nghiêng đầu hẳn chín mươi độ để nhìn và tưởng tượng thì có vẻ như nó giống đầu một con rùa đang ngóc lên, phần cổ hơi võng xuống rồi đến phần mai rùa, nhưng phần mai rùa chỉ có một chút nên rất khó tưởng tượng. Tôi vui mừng chạy xuống, băng qua vài thửa ruộng rồi tới gò đất đầu rùa ấy, ngó nghiêng một hồi quả thật có một bãi phân trâu đã khô có cắm một cái que nhỏ, vậy là tôi đã tìm ra thứ cần tìm, chính là vị trí mà đám người bí ẩn kia dự định sẽ đào và chôn cái gì đó xuống.
Tôi quan sát rất kỹ, ngay gần gò đất này là một ruộng ngô, đầu gò đất hình con rùa hướng vào phía lối đi mà tôi đang dựng cái xe đạp cạnh lũy tre, khoảng cách chừng một trăm năm mươi mét. Địa hình khu vực này không thoáng, nhiều gò ụ và lại có ruộng ngô nên tầm nhìn của tôi rất hạn chế, không nắm rõ được địa hình thì rất khó tưởng tượng các tình huống có thể xảy ra. Sau một hồi suy nghĩ tôi đi bộ trở lại nơi đang dựng xe đạp rồi đạp một mạch về luôn, cất xe đạp và dép xăng – đan, lấy ống nhòm rằn ri mới toanh cùng một cuốn vở và bút bi rồi sau đó đi bộ trở lại chỗ cũ, ngay sát bụi tre đã dựng xe đạp khi nãy. Quan sát trước sau một hồi không thấy có ai, tôi nhét cuốn vở ra sau lưng, đút bút bi vào túi còn ống nhòm đeo trên cổ nhưng cho vào trong áo vì sợ những cành tre sẽ làm xước ống kính.
Đối với tôi tre không phải là cái gì khó để leo trèo, nhỏ người cũng có cái lợi, sau một hồi hì hục gỡ, bẻ, gạt từng cành tre nhỏ thì tôi cũng đã leo lên được độ cao khoảng ba mét, đứng gần như giữa bụi tre xanh đang nghiêng ngả vì gió. Với độ cao này thì tầm quan sát tốt hơn một chút, có thể thấy địa hình giống như một gò đất lớn giữa cánh đồng và thoai thoải dần sang các bên, y như cái bát úp vậy, xem ra cái gò đất hình đầu rùa kia gần như là điểm cuối cùng của gò đất lớn, sở dĩ khó hình dung là vì có nhiều ruộng ngô, khoai tây, khoai lang… nằm nối nhau và trải dài, rất có thể đám người bí ẩn lạ mặt kia sẽ dùng những ruộng ngô làm nơi ẩn nấp tránh bị phát hiện bởi người làng và khả năng hướng chúng đi tới chính là hướng Tây Nam, đoạn từ cái trạm bơm cũ nơi có cây cầu tạm bằng gỗ dân làng hay gọi là cầu Khoai.
Địa hình quan sát tạm ổn nhưng tôi sẽ ẩn nấp ở đâu để quan sát? Không thể đứng trên ngọn tre này được, rất dễ bị lộ và khi bị lộ sẽ không có đường nào thoát, khu hoang vắng này nếu có hét to thì khi có người tới nơi cũng đã muộn.
Sau khi leo xuống khỏi bụi tre, tôi đi lùi vào khoảng năm mét thấy một cái cổng nhà cũ kỹ làm bằng gỗ, nhìn trước ngó sau một hồi tôi leo tường nhảy vào trong. Trước mặt tôi bây giờ là một khoảnh sân gạch nhưng mọc đầy cây dại và có rêu xanh, hai bức tường gạch hai bên nối liền với hai đầu hồi ngôi nhà ba gian đang đóng kín cửa và cài then bên ngoài, tôi đi gần vào nhìn kĩ ổ khóa thì thấy còn mới, chả biết đây là nhà ai nhưng chắc chắn có người mở khóa vào quét tước chưa lâu, Tết đến kiểu gì cũng có người về ở. Tôi quyết định trèo lên nóc nhà bằng cách trèo lên tường rồi leo lên mái, vừa leo vừa cẩn thận nhìn ngó vì sợ người lớn thấy, thật may chẳng có ai.
Mái nhà bằng ngói rất dễ cho tôi di chuyển, cứ khom người mà bước đi, tốt nhất là không nên giẫm vào ngói vì khả năng vỡ ngói nhà người ta là rất cao do ngói đã ngả màu đen, tôi đoán là ngói cũ. Đứng trên nóc nhà này thì độ cao cũng hơn được cây tre, tôi áng chừng là cao bốn mét so với mặt đất, chắc là thế, dùng ống nhòm quan sát rất rõ phía gò đất hình đầu rùa, chỉ có một vài cành tre lưa thưa che khuất nhưng tính ra lại là tốt. Tôi rất ưng vị trí này vì chỉ cần nằm áp sát xuống mái nhà phía Bắc sẽ không ai có thể phát hiện ra được mình nhưng đường lui thì có vấn đề. Từ độ cao này không thể nhảy xuống được, phía bên kia là một khu vườn hoang, đất cũng không mềm nghĩa là nhảy sẽ toi mạng vậy là chỉ còn cách ẩn náu kỹ nếu chọn vị trí này, vị trí không có đường rút nếu bị phát hiện trừ khi tôi có thang hoặc dây, nhưng dây sẽ móc vào đâu?
Nhà này có cột thu lôi ở đầu hồi hướng Nam phía vườn hoang, là một thanh sắt nhìn đã hoen gỉ và không có vẻ gì là chắc chắn nhưng dù sao vẫn hơn là không có, tôi quyết định sẽ dùng vải xô trắng để làm dây leo xuống, chỉ cần leo được một đoạn để giảm độ cao là được, với cân nặng gần bốn mươi cân cả bì của tôi thì chắc cái cột thu lôi sẽ chịu được, tôi hy vọng như vậy.
Có đường thoát hiểm khi cần khiến tôi vững bụng hơn rất nhiều.
Về nhà, tôi ghi chép rất cẩn thận và cũng đến chỗ ấy xem lại thêm hai lần nữa để cho nhớ các mốc, các đoạn đường, lối thoát khi cần.
Chiều ngày Tám tháng Mười một thì kế hoạch của tôi đã khá hoàn chỉnh, tôi đã tự tin hơn và cũng hồi hộp do phải “tác chiến” ở nơi lạ, nhưng điều này cũng kích thích tôi mong ngóng đến ban đêm.
– Bà ơi, tối nay cháu xuống chơi nhà thằng H., bà đừng chờ cửa nhé.
– Mày liệu liệu mà về sớm.
– Bà cứ ngủ trước đi, thằng H. nó hay xem bóng đá, cháu nằm chơi rồi xem ở đấy có khi lại ngủ quên luôn ấy chứ.
– Thế tao chỉ cài then cửa thôi đấy, liệu mà về.
***
Trăng lên cao, tôi rời nhà sau khi đồng hồ điểm chín giờ tối, tất cả đồ đạc tôi đã giấu sẵn trong ụ rơm, riêng chỉ có cái lá vối nhỏ thì tôi ngậm lên miệng, tôi cũng cẩn thận rồi, cái mũ len trùm đầu chỉ hở hai con mắt sẽ giúp cho cái lá không thể rơi ra được. Tôi có mang theo tất nhưng không vội đi còn dép thì để lại luôn ở đống rơm, tuy khi đi đất hơi nhát chân nhưng sẽ tiện, càng thật chân càng tiện, cái đôi giày nhấp nháy đúng là đồ vứt đi còn một đôi khác mới mua thì tiếc, nhỡ đâu lại làm mất thì ngu người, hơn nữa giày đó không phù hợp cho việc leo trèo, tôi tự nhủ rằng:
– Hôm nào phải mua đôi bata đế mềm mới được.
Tôi yên vị trên nóc ngôi nhà vắng người, gió chả biết thổi từ hướng nào nhưng chắc là hướng Bắc vì ngọn tre ngả qua hướng Nam, tôi nằm đấy lấy ống nhòm quan sát, đúng là tiền nào của nấy, cái gần trăm nghìn nhìn ban đêm ngon hơn cái Hai chục nghìn gấp mấy lần, có cả tăng chỉnh xa gần rất là hiện đại.
Đồ đạc mang theo tôi để trong một cái túi vải cũ của bà, tôi không mang túi cước vì trên mái nhà rất trơn, nhỡ đâu bị rơi. Cái thuổng thì tôi thả xuống bên khu vườn còn phía đầu hồi cũng đã buộc sẵn sợi dây màu trắng bằng vải xô vào cột thu lôi.
Càng về khuya trời càng lạnh nhưng với mũ len, áo len cổ cao, quần dài và đôi tất thì tôi thấy cũng không có gì đáng ngại.
Thời gian trôi đi, gió mát trăng thanh khiến tôi buồn ngủ, đúng ra tôi nên mang nước chè thay cho nước vối của bà Già.
Trăng bắt đầu treo gần đỉnh đầu thì có mấy bóng người xuất hiện từ ruộng ngô, họ di chuyển rất nhẹ nhàng, tôi phát hiện thấy ruộng ngô có nhiều cây rung lắc nên nhòm kĩ qua ống nhòm đồ chơi nhưng cũng chỉ nhìn thấy bóng người chứ không được rõ ràng vì họ không sử dụng đèn, đám người ấy túm tụm lại nơi gò đất hình đầu rùa và bắt đầu đào.
Bỗng nhiên tôi thấy có nhiều luồng gió ớn lạnh thổi tới xung quanh mình, gió lạnh tới mức rét buốt, tôi cảm nhận trên da mình có bao nhiêu lông tơ thì dựng hết lên một lượt, gió như thổi từ bốn phương tám hướng làm lũy tre nghiêng ngả như bị ai đứng dưới gốc rung lắc vậy.
Tim tôi đập mạnh, răng cắn chặt vào nhau, cố gắng thở nhẹ và giữ nguyên tư thế ấy trong một hồi lâu, tôi bỏ ống nhòm ra khỏi mắt và nhìn thấy dường như phía trước mình có một vài hình thù gì đó đen đen đang lượn qua lượn lại nhiều lần, nhìn không rõ đó là cái gì nhưng mỗi khi những cái bóng đen hình thù kì dị ấy lướt qua gần tôi thì tôi cảm thấy như lạnh hơn. Và đột nhiên có một cái bóng đen lớn không phải là hình người lao tới trước mặt tôi giống như đang quan sát hoặc tìm cái gì đấy, tôi tưởng như đó là những đám mây đen nhỏ nhưng không phải, cái bóng đen sì ấy ở phần giống như là đầu có hai con mắt tròn nhưng rỗng, có thể thò tay qua được, rất khó hiểu. Đây là âm binh sao?
Tim tôi đập mạnh hơn nữa và tôi cảm rất lạnh. Tôi nhắm mắt lại cố gắng điều chỉnh hơi thở và khi mở mắt ra thì không còn thấy cái bóng ấy nữa, có thể chúng đã đi chỗ khác, tôi không nhìn thấy nhưng giờ thì tôi tin chị Ma nói đúng, trong đám kia có người điều khiển được âm binh giúp sức, tôi bỗng thấy vô lý sao mình phải sợ bọn nó, đây là làng mình cơ mà, nếu dân quân bắt được bọn này thì sẽ điều tra được rất nhiều thứ.
– Nên chấm dứt cái việc này sớm thôi.
Tôi chậm rãi bò ngược lại phía đầu hồi nơi buộc miếng vải xô trắng, chỗ đó tôi có để sẵn một thứ rất hay, đó chính là mấy điếu thuốc lá Du lịch, tôi cúi đầu xuống để châm thuốc, tôi bật lửa lên và lấy che tay cho bớt ánh sáng, rít một hơi để thuốc lá bắt lửa, rít thêm một hơi nữa cho thuốc cháy đỏ hẳn rồi tôi thổi khói ra.
– Vị lạ quá.
Tôi nhăn mặt, xong xuôi tôi bò lại hướng mái nhà phía Tây lặng lẽ lấy súng cao su ra, để điếu thuốc kẹp giữa những viên ngói một cách chắc chắn, sau khi nhìn kỹ hướng thì tay trái cầm súng cao su còn tay phải tôi lấy quả pháo cối thứ nhất cho lên miếng da trâu nhỏ và bóp lại. Hít một hơi thật sâu lấy bình tĩnh vì tôi chưa thử bắn pháo kiểu này bao giờ, pháo nổ sớm là tôi ăn đủ. Khi cảm thấy mình đã đủ bình tĩnh thì tôi hạ thấp hai tay xuống, tay phải gí dây cháy chậm vào đầu điếu thuốc đang đỏ lửa, khi lửa bén tôi lập tức kéo căng dây chun và bắn quả pháo lên cao hướng về phía đám người.
Đùng!
Tiếng pháo nổ chát chúa trên trời giữa đêm khuya thanh vắng. Tôi châm tiếp quả pháo thứ hai và lẩm bẩm:
– Tao sẽ cho chúng mày sợ chết khiếp thì thôi, lần sau đừng bén mảng đến làng này nữa.
Đùng!
Thêm một tiếng nổ từ trên trời, rất to. Tôi nghĩ rồi, nếu bọn họ dùng tà thuật âm binh gì đó thì tôi sẽ dùng đến thứ cuối cùng để bảo vệ mình trước lũ âm binh ấy.
Tiếng pháo nổ làm tôi không còn thấy sợ nữa, thậm chí còn cảm thấy hào hứng. Quả pháo thứ ba tôi không dùng súng cao su mà dùng tay ném qua bụi tre, chắc quả đó rơi gần lối đi ven làng vì tôi nằm ném cho nên nghe tiếng nổ to hơn.
Đùng!
Quả thứ tư thì tôi đứng lên ném, không biết như thế là dũng cảm hay ngu dốt nhưng đang say máu rồi, tôi ném liên tiếp hai, ba quả liên tục.
Càng nổ nhiều thì dân quân tới càng sớm.
Quả sau cùng thì tôi lại cho lên súng cao su và đứng bắn thẳng về hướng ấy, tôi không nhìn xem bọn họ còn ở đó hay không. Ngay sau quả pháo đó, tôi nhanh chóng cho mọi thứ vào túi rồi khom người đi về đầu mái nhà phía Đông, nhét mọi thứ vào người rồi đu theo nóc nhà, khi chỉ còn hai tay bám vào bức tường đầu hồi thì tôi mới dùng tay trái để nắm vào dây vải sau đó nhanh chóng nắm tiếp tay phải vào rồi tụt xuống nhưng chỉ được vài lần thả tay thì tôi cảm thấy bị hẫng, hai mắt tôi vẫn kịp thấy cái thanh sắt thu lôi rời ra khỏi mái nhà và rơi xuống, tôi vì thế cũng rơi theo.
***
Tôi không biết chuyện gì xảy ra sau đó, cũng không biết mình đã ngất đi bao lâu nhưng tiếng ồn ào ngoài xa khiến tôi tỉnh lại, tôi mở mắt thấy trăng vẫn cao vời vợi nên vội ngồi dậy thì thấy tay chân mình không bị làm sao, không gãy chỗ nào, cái thanh thu lôi rơi cách tôi một đoạn.
Sau khi kiểm tra một lần nữa thấy mình không sao thật thì tôi yên tâm, bây giờ việc cần làm là đi ra đào cái thứ kia lên.
—
***