Bí Ẩn Làng Bưởi Cuốc - Chương 2: Tiếng súng trên đường
Những năm này, ở Quỳ Châu và Thái Nguyên rộ lên phong trào đi đào đá đỏ và đào vàng, bố tôi cũng bắt trend nên tay nải rời nhà, bố tôi quyết định theo hướng mua bán nhỏ lẻ vàng cám của những người đào ở bãi vàng trên Thái Nguyên, được một người có máu mặt bảo kê nên cũng tay cân tay tiền vào hành nghề ở bãi mà không gặp khó khăn gì. Sau một lần cân gian bán thiếu cho giang hồ tại bãi, bị bẻ cân, chỉ thiếu chút nữa thì bỏ mạng trong rừng sâu, nếu không có đại ca ở bãi đó đứng ra thì tôi mồ côi cha luôn từ những năm đấy. Khi trưởng thành, tôi được kể rằng người đại ca của bãi vàng giúp bố tôi lúc ấy khi còn trẻ đã lăn lộn cùng bố tôi mua bán súng quân dụng và bị bắt ở Lạng Sơn, bố tôi thì thoát được chạy về nhờ người quen là công an cứu bác đó ra, vì thế hai người mới thân thiết như vậy.
Bố tôi từ bỏ nghề mua bán vàng cò con ấy, tôi cũng thoát cảnh một tháng có vài ngày vào buổi tối đứng đạp cái pen hơi để bố khò vàng cục nhỏ thành hình những cái nhẫn, mặc dù được cho tiền mua kẹo, mua kem nhưng việc đạp vào cái pen như bơm xe đạp ấy rất mệt, phải đạp đều và liên tục, tôi cũng chả biết cái dụng cụ đấy gọi là cái gì.
Thất nghiệp nghề vàng, bố tôi chuyển qua bán tivi cho người Mường và thu mua hạt sa nhân. Tivi mua từ Hà Nội, vẫn là cái hiệu National vỏ màu đỏ, có tặng kèm thêm một tấm nhựa màu xanh chắn màn hình để tivi có vẻ như… có màu, đỡ nhìn đen trắng nhàm chán, mỗi cái tivi được bán thành công mang lại lợi nhuận đến Bốn trăm nghìn đồng, khoảng ba chỉ vàng bây giờ, còn hạt sa nhân thu mua thì lại bán về Hà Nội. Bởi vậy nhà tôi cũng thuộc diện có điều kiện kinh tế ở khu nông trường và vì thế bố tôi cũng có nhiều bạn bè, điều này ngay từ nhỏ tôi đã tự hiểu, người làm ăn buôn bán luôn có nhiều bạn bè hơn những người làm nghề khác.
Tôi đến nơi vào buổi trưa, đám ma đã có cờ báo tang treo ven đường, căn nhà hai tầng khang trang có mặt tiền nằm ở chân cầu, giờ tôi không còn nhớ tên, bên hông là con suối nhỏ. (Nếu bạn nào đó đang ở thị trấn này chắc sẽ biết tên cây cầu đó mà thôi).
Chú tôi (ở miền Trung và miền Nam gọi là dượng) treo cổ tự tử!!!
Không biết nguyên nhân như nào, người thì bảo thua cờ bạc nợ nhiều, người thì nói do buồn chuyện gia đình ở quê… tất cả chỉ là phỏng đoán của mọi người, đến bây giờ cũng chưa có nguyên nhân cụ thể vì người chết làm sao mà nói đây?
Cô tôi khóc vật vã bên cạnh cái giường ngoài phòng khách nơi chú tôi nằm trên đấy, mặt đã được phủ khăn, tôi chỉ được đứng nhìn từ cửa sổ, mẹ tôi cũng khóc, bà tôi cũng như thế và nhiều người khác nữa. Chú ấy được phát hiện lúc sáng khi đứa con gái lớn dậy đánh răng thấy chân bố mình lửng lơ, thân treo trên xà bếp và lưỡi thì thè ra ngoài, con bé chỉ mới sáu tuổi! Lúc tôi tới nó và hai đứa nhỏ hơn đã được đưa qua nhà người thân trông coi giúp, đứa nhỏ nhất mới chỉ ba tháng tuổi. Tôi không biết việc đó ám ảnh nó như thế nào nhưng nó là một đứa nghị lực tốt, kiên định, sau này đi học lên cấp ba còn đoạt hạng nhì khi đi thi học sinh giỏi tỉnh Bắc Ninh, lúc thi đại học nó lại là thủ khoa đầu vào cái ngành nó học của trường Đại học Văn Hóa.
Tôi có hai cô ruột, khi trẻ hai cô đều lấy chồng cùng năm, lúc tính cưới nhiều người đã bảo là không nên vì kiêng kị, các bậc tiền bối trong họ cũng khuyên ngăn nhưng cô út vẫn kiên quyết, bên đằng trai cũng xem tuổi thấy năm đó tốt nên chả ai cản được. Cuộc đời không ai biết được điều gì, cũng có thể ông thầy nào đó nói đúng hoặc kinh nghiệm nghìn năm cha ông truyền lại là đúng. Nói chung, thầy bà tướng số cũng có nhiều loại, nếu như tôi gặp lại bà thầy đã xem tuổi tôi và người yêu, phán cho mẹ vợ tôi cái gì đó làm bà ngăn cản cật lực một thời gian dài chắc chắn tôi sẽ đập bà ta một trận ra trò nhưng cũng có thể bà ấy nói đúng, dù sao cuộc đời vẫn còn rất dài.
Chú B. đã chết, đấy là sự thật, con người hay cười, đẹp trai, cao hơn một mét tám ấy mỗi lần gặp các cháu đều có quà. Tôi nghe đâu bố tôi bảo, chú ấy cũng có tiếng tăm trong giới xã hội đen nơi ấy, đi đâu cũng mang trong người côn nhị khúc, đánh đấm nhiều trận phân cao thấp trong thế giới ngầm.
Vẫn chưa có quan tài nào phù hợp!
Chú ấy cao hơn mức phổ thông lại gấp gáp nên cả thị trấn và lân cận kiếm mãi cũng chỉ có một cái mà khi nhập quan vẫn thừa chân, áng chừng thiếu đến 3 cen – ti – mét, tôi chỉ áng chừng vậy thôi, làm gì được lại gần mà biết rõ. Mọi người không biết nên làm sao, người thì to mà quan tài nhỏ lại ngắn, lại phải đưa về quê chôn cất, quãng đường một trăm năm mươi ki – lô – mét không phải là gần.
Đúng lúc ấy, có một người tôi không biết là ai bước lại gần nhìn rồi quay sang nói gì đó với mấy người xung quanh, sau đấy tách khỏi đám đông đang vây quanh và đi theo bố tôi, đứa tò mò như tôi làm sao bỏ qua cơ hội đi theo chứ. Bố tôi dẫn người lạ ấy vào phòng ngủ của cô chú trên tầng 1, người ấy xem xét một hồi, nhắm mắt lại lẩm bẩm gì đó trong miệng kiểu như niệm thần chú, ra điều rất bí hiểm, tôi vểnh tai nghe nhưng có điều tiếng nhỏ quá tôi chả nghe thấy.
Một lát, bỗng nhiên người lạ mở mắt rồi lấy chân đạp “phịch” một cái thật mạnh vào phía chân giường, tôi chả biết ông ta định làm gì nhưng cùng lúc ấy dưới nhà xôn xao hẳn lên.
Hai chân người chết đã nằm lọt trong quan tài như một phép màu!!!
Người Mường vẫn có những điều thật kỳ bí, đến nay tôi vẫn có thiện cảm với người Mường hoặc người ở Hòa Bình, có lẽ do họ mang lại cho tôi những điều kỳ lạ ấy.
Chú tôi sẽ được đưa về quê và chôn gần mộ của ông nội tôi, mọi người đã quyết định như vậy và đánh điện về quê và sáng sớm mai sẽ khởi hành…
Chuyến xe tang xuất phát từ thị trấn ấy đi qua thị xã Hòa Bình, qua cả Thủ đô (lần đầu đến Thủ đô trong tình huống này) rồi về quê. Tôi được đi cùng đơn giản vì đã thi xong, chỉ là chưa tổng kết năm và quan trọng tôi là đứa không phá quấy hay gây phiền cho ai.
Còn cách làng tôi chừng năm ki – lô – mét thì có sự cố dở khóc dở cười, nghe thì cũng bán tín bán nghi, là do đường đi quá dài nên… vàng mã mang theo rải đường bị hết!!! Xe chở áo quan không thể di chuyển được, máy xe nổ bình thường mà xe cứ ì ra như bị ai đó kéo lại! Bác tài xế mặt tái mét còn mọi người lại nháo nhào gom tiền lẻ lại, những tờ Một trăm đồng, Hai trăm đồng, Năm trăm đồng, Một nghìn đồng, đồng được giao cho một bác phụ nữ. Những tờ tiền được vứt xuống dưới đường, cái xe chở áo quan lại bon bon chạy, tôi ở trên xe ca Hải Âu (xe khách) thấy mọi người im lặng, trán vài người lấm tấm mồ hôi còn tôi thì tò mò việc đấy rất nhiều.
Bà Già giải thích cho tôi rằng rải vàng mã xem như lộ phí đi đường đưa cho ma quỷ, cô hồn để chúng không gây phiền nhiễu hay gây khó khăn cho việc đưa tang, vì hết vàng mã nên ma quỷ kéo xe tang lại không cho đi tiếp. Nghe thì biết vậy, mấy năm sau tôi được trải nghiệm kĩ hơn cái này, không nhìn thấy gì nhưng lại cảm nhận thấy cái gì đó, nói thật lúc đấy chỉ còn thiếu điều đái ra quần mà thôi, muốn chạy nhưng chân đông cứng.
Bây giờ tình trạng rải vàng mã vẫn còn dù Nhà nước đã cấm, có người tin người không về việc này, tôi thuộc nhóm bán tín bán nghi, không tin nhưng muốn thử, thử xong vẫn nửa tin nửa ngờ nhưng tôi biết nhiều người không muốn có sự cố bất ngờ trong lúc tang gia bối rối như vậy.
Ở làng người ta bàn tán xôn xao về chú B., tự tử là điều gì đó rất kinh khủng ở một làng quê vốn yên bình này. Làng tôi cho đến nay vẫn giữ những phong tục từ xưa, ví như đã chết ở xa thì không được mang vào làng, chỉ được để ngoài cổng làng gần cây đa cổ thụ mà thôi.
Chú B. tôi cứ như vậy về với đất, để lại vợ và ba đứa con cho cuộc đời vùi dập, nhiều năm sau này mẹ tôi thi thoảng có kể lại một vài điều về chú B., chồng cô út của tôi, ấy là thời cô út tôi chưa lấy chồng, mới đang yêu chú B. thì có lần cô cùng mẹ tôi đi xem thầy. Thầy xem quẻ và hỏi rằng tại sao không lấy người tuổi khác đang theo đuổi mà lại chọn lấy chú B.? Thấy cô tôi trình bày và có vẻ quả quyết lấy cho bằng được thì thầy chỉ nói:
– Anh này anh ấy bạc lắm!
Cô tôi lúc ấy còn trẻ, mới mười tám tuổi và mẹ tôi hai mươi, cả hai nói chuyện với nhau trên đường về rằng cùng lắm thì chú ấy chơi cờ bạc và đánh vợ con là cùng, dù gì ở làng tôi thì đàn ông cờ bạc là một chuyện quá ư bình thường, ai cũng chơi, từ trẻ lên mười đến bà cụ tám mươi tuổi. Chú B., lại là một thanh niên đẹp trai, cao ráo, là mẫu người lý tưởng của nhiều cô khác trong làng nên những lời cảnh báo của thầy bói cũng mau bị quên đi. Cũng có lần dưới ánh đèn điện sáng choang của ngôi nhà ở quê, cô út tôi nói rằng thời ấy chú B. tôi cũng có quen một phụ nữ người Mường, nhiều người bảo cô rằng chú B. đã bị bỏ bùa, bắt phải bỏ vợ bỏ con để theo người ta hoặc là chết, có lẽ… Có lẽ chú ấy không tin và câu chuyện này cũng không biết thực hư đến như thế nào. Nếu ngồi xâu chuỗi lại các sự việc thì cá nhân tôi cũng cho rằng phải có ẩn tình phía sau, một người chẳng thấy nợ nần gì, giao thiệp rộng, vợ đẹp, con ngoan mà tự nhiên đi tìm cái chết một cách đầy khó hiểu.
Người chết thì yên phận nhưng người sống sẽ phải sống chung với nỗi đau.
Còn với tôi, quê hương lúc này tôi chưa có khái niệm gì, lần đầu tôi về làng chỉ có kỉ niệm như vậy, không ngủ đêm lại, hạ huyệt chú B. xong đoàn xe quay đầu trở về Hòa Bình.
Trở lại nhà, chỉ hơn một tuần sau thì tôi chút xíu nữa đã gây ra đại họa!
***
Như tôi đã kể, bố tôi là con trai duy nhất, ông nội tôi cũng vậy cho nên bố tôi thừa kế luôn trách nhiệm thờ cúng tổ tiên, ông có cả một cuốn sổ viết các thông tin chi tiết và tôi đã phải gánh trách nhiệm thay bố khi tôi học cấp hai, cá nhân tôi lúc đấy thấy rất vinh dự nhưng sau này khi nó là trách nhiệm chính thì tôi thấy không còn vinh dự nữa, đó là trách nhiệm, đôi khi vẫn bị chửi vì chểnh mảng.
Nếu bạn đã đọc những phần trước sẽ biết tôi có ít nhất ba bà nội, khi tôi biết nhận thức và biết mọi thứ xung quanh thì thấy có hai bà là bà Già và bà Trẻ, trong đó bà Trẻ đẻ ra bố tôi còn bà Già không có công sinh nhưng có công dưỡng. Tôi và các em phải mãi đến khi học cấp hai mới biết ai đẻ ra bố nhưng điều đó không làm giảm đi tình cảm của chúng tôi. Trong đám cháu nội ngoại, có lẽ do tôi là cháu trưởng lại ngoan nên luôn được ưu ái nhất, thế hệ các cụ thì chỉ có cháu đích tôn mới là số một nên những đứa em tôi, kể cả em họ đều thấy bất công, đôi khi chúng nó ghét tôi cũng vì tôi được ưu ái hơn chúng nó. Thực tế, tôi chưa bao giờ dùng sự ưu ái để bắt nạt các em của mình, chúng nó tị nạnh thì kệ thôi.
Bà nội Cả của tôi đã mất từ trước khi bà Trẻ về làm vợ ông nội nên ngay cả bố tôi cũng không biết nhưng ngày giỗ vẫn được thực hiện đều đặn hàng năm, ngày Một tháng Tư Âm lịch, ngày này cũng lại trùng hợp là ngày giỗ của một bà cô trẻ, em ruột của cụ nội, bởi vậy là đám giỗ chung ngày.
Ngày mùng Một tháng Tư năm ấy, tôi nhớ là đã được nghỉ hè, chú B., cũng mới mất nên không khí gia đình khá ảm đạm, mấy anh em tôi không được ra ngoài bêu nắng, chỉ chơi loanh quanh trong nhà. Tôi học mỹ thuật, đã biết được mấy kiểu gấp máy bay giấy khác nhau nên xé vở rủ hai em mình chơi cùng, thằng em phi máy bay một hồi thì bị dính trên ban thờ trên cao, tôi đi lấy cái sào dài cố chọc để máy bay giấy rơi xuống.
Choang!
Một bát hương nhỏ màu trắng với những họa tiết màu xanh lục rớt xuống đất vỡ tan, chính là bát hương thờ bà cô trẻ cúng giỗ hôm ấy! Bụi tro bay tứ tung, tôi đứng lặng người không biết nên phải làm gì? Bỏ chạy? Thu gọn lại rồi giấu đi? Bao nhiêu ý tưởng thoáng chốc chạy ngang qua nhưng tôi lựa chọn cách đứng đó nhìn.
Mẹ tôi từ ngoài xuất hiện, tôi thấy khuôn mặt bà chỉ thoáng chốc đã tái xanh đồng thời hét toáng lên. Nói thật, nếu không có hai bà can ngăn thì tôi đã ăn đủ roi ngay tại lúc đấy, đây việc đại kỵ, tôi đủ thông minh để biết rằng đây là thứ không bao giờ được động chạm vào nhưng bây giờ đã vỡ tan, như này khó tránh bị ăn đòn một trận nhừ tử, tôi cảm thấy sợ hãi vô cùng, tưởng tượng đến cảnh mình nằm sấp nhận từng cái roi mây vun vút đáp xuống thân thể mình. Thời gian thật dài khi tôi phải chờ đợi cơn thịnh nộ của bố.
Bố tôi vắng nhà! Hôm nay nghe đâu là cúng tuần đầu cho chú B., nhân tiện nhận hàng để chở về, tôi còn nhớ lúc ấy hạt sa nhân và long nhãn là hai thứ bố tôi thu mua và đóng bao bì gửi về Hà Nội để người ta làm thuốc bắc, việc mua bán loại hạt này ít người làm vì cần phải có mối dưới Hà Nội, vậy nên bố tôi một mình trên chiếc Honda 67 chạy khắp các huyện như Lạc Thủy, Tân Lạc, Lạc Sơn… để thu mua, phần nhiều vẫn là người đồng bào bán cho, người đồng bào bán những loại hạt này rồi mua sắm các vật dụng như tivi, đài cassette, đèn pin… và thậm chí cả xe Simson, Honda Cub, thế nên trong người bố tôi lúc nào cũng phải nhiều tiền mặt phục vụ việc mua nhanh bán gọn.
Bố tôi mới ngoài ba mươi, đàn ông thời đó có điểm chung là ngoài ba mươi đã đỉnh thiên lập địa rồi, không như tôi bây giờ, gần bốn mươi vẫn chạy ăn từng bữa, nuôi một đứa con đã vã mồ hôi, rồi ngồi than trách cuộc đời nhàm chán. Lúc thanh niên, bố đã từng sinh sống qua nhiều nơi như Bắc Giang, Lạng Sơn, Hà Nội và cũng chạy vài thứ “hàng cấm” lúc bấy giờ, về sau tôi mới hay tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn chính là nơi kiếm tiền đầy phức tạp, bố tôi có vẻ như cũng nằm trong số những người buôn bán hàng lậu.
Đến nay tôi vẫn không cho rằng bố mình là người bản lĩnh giang hồ gì, tôi đánh giá ông là một người khôn khéo và luôn hăng say kiếm tiền chăm lo cho gia đình.
Tối muộn hôm ấy, tôi vẫn thấp thỏm đợi chờ nghe tiếng xe máy Honda 67 vọng lại từ xa nhưng cho đến khi mắt díp lại, leo lên giường ngủ thì vẫn chưa nghe thấy tiếng xe máy của bố về, tôi thiếp đi lúc nào không hay.
***
Quốc lộ 12B đoạn từ thị trấn Mãn Đức tới ngã ba Xưa khoảng hai mươi lăm ki – lô – mét, con đường trải nhựa với nhiều đoạn lên dốc xuống dốc băng qua những con đồi thoai thoải của miền Tây Bắc, dĩ nhiên tôi đoán nó không đẹp như trong thơ. Buổi tối ngày đầu tháng trời không trăng, thời tiết mát mẻ, màn đêm phủ xuống khiến người ta cảm thấy hơi lạnh khi chạy xe máy.
Tiếng nổ giòn tan đặc trưng của chiếc Honda 67 cùng ánh đèn tròn vàng của xe lao vun vút giữa màn đêm, ông K. không lạ gì con đường này vì hàng tháng ông qua lại đến năm mươi lần, thoáng nhìn đồng hồ Seiko trên tay, ánh dạ quang trên mặt đồng hồ cho ông biết cũng đã gần chín giờ tối, xa xa trong tầm mắt ông đã thấy ánh đèn của một căn nhà quen thuộc, qua con dốc phía trước là tới nơi, căn nhà ấy là nơi ở của một đầu mối nhỏ thu mua hạt sa nhân rồi bán lại cho ông, lúc sáng khi đi qua ông đã dặn dò chiều tối quay lại sẽ chở hàng về và trả tiền.
Loáng trong ánh đèn, ngay đầu con dốc trước mặt ông thấy một thân cây nhỏ nằm chắn ngang đường, ông giảm tốc độ xe từ từ chạy lại gần, bỗng nhiên từ trong lùm cây ven đường nhảy ra hai bóng người. Với một người đã từng nhảy tàu buôn hàng lậu, cũng đã từng cầm hàng nóng buôn bán ở đất biên giới lúc chiến tranh với Tàu chưa nổ ra, cũng đã từng thoát chết ở bãi vàng nên ít nhiều ông K. cũng có sự bình tĩnh nhất định. Ánh đèn pha không chiếu được khuôn mặt của hai người lạ nhưng qua dáng dấp có thể khẳng định chắc chắn đó là hai người đàn ông, họ đội mũ len với khăn quàng cổ che đi nửa khuôn mặt.
Xung quanh trời tối đen như mực, thời gian như ngưng đọng trong giây lát, tiếng pô xe vẫn nổ “bịch bịch” đều đặn. Hai người đàn ông lạ mặt, một thấp đậm còn người kia cao hơn và trên tay họ đều có vũ khí, một khẩu CKC trên tay gã cao và một con dao đi rừng trong tay gã thấp.
Ông K. gạt chân chống để xe nghiêng sang một bên rồi nhanh tay rút đầu chụp bugi ra khỏi vị trí, xuống đứng cạnh xe. Tiếng xe máy đang nổ tắt lịm.
– Đưa hết tiền ra đây! – Một giọng khàn khàn nói tiếng Kinh chưa sõi vang lên.
– Dạ thưa, các anh tha cho, em đây không mang theo nhiều.
– Không nói nhiều, lục túi của nó! – Gã đó ra lệnh cho đồng bọn.
Ông K. vô thức lui lại phía sau, gã đàn ông kia tiến lại gần, trời tối nhưng khi đủ gần vẫn có thể nhìn thấy bóng của nhau, thoáng trong phút sinh tử, ông K. thấy có bóng kim loại loáng lên, theo phản xạ ông đưa tay trái lên đỡ.
Soạt!
Là dao! Ông K. bị chém, ông đã đỡ được và nhanh chóng tìm cách thoát thân không thì bỏ mạng tại đây, ông K. nhanh chóng lùi lại tránh tiếp nhát chém thứ hai đang bổ tới.
– Đứng lại! Mày lui nữa tao bắn!
Trời tối, bắn có trúng không? Mạng thì chỉ có một mà thôi, ông K. vội vàng lấy tiền trong người ra, luống cuống tay chân nhưng đủ tỉnh táo để ném một sấp tiền về phía trước, nhiều tờ bay tứ tung trong gió
– A! Thằng này giỏi…
Đoàng!!!
Tiếng súng vang lên giữa đêm tối, ông K. ngã ra phía sau vì sợ nhưng vẫn đủ tỉnh táo vùng dậy thật nhanh nhảy vào lùm cây ven đường bỏ chạy, không thấy đường vẫn phải cắm đầu về phía trước mà chạy.
Đoàng!!!
Thêm một tiếng súng nữa bắn phía sau lưng, ông K. vội nằm sấp xuống quay nhìn về phía sau, cố nén tiếng thở hộc hộc từng cơn rồi vùng dậy khom người chạy tiếp…
Cảm thấy đủ xa ông đứng lại thở dốc từng cơn, mồ hôi ướt đẫm áo.
Mãi không nghe thấy tiếng xe máy nổ, bọn nó đi chưa? Bọn nó dắt xe đi hay sao?
Ngồi một hồi lâu cố lấy lại bình tĩnh và thở từng chặp gấp gáp, ông K. nhìn hướng căn nhà người thu mua mà ông quen biết ở phía xa đang sáng đèn, dường như có nhiều đèn sáng hơn khi nãy, có lẽ họ đã nghe thấy tiếng súng, ông quyết định đi về hướng đó. Lúc này ông K. đã cảm thấy đau và ướt ở nơi bàn tay trái.
– Chú có sao không?
Người chủ nhà hỏi gấp ngay khi nhìn thấy rõ ông K. trong ánh đèn hắt ra đường, xung quanh ông là vợ và mấy đứa con.
– Em mới bị cướp ngay chỗ dốc kia, bọn nó hai đứa có CKC.
– Chú ngồi đây, có bị làm sao không? Tôi nghe thấy nhưng không dám ra, tôi đoán là cướp nhưng không nghĩ là chú bị.
Ông K. giơ tay trái ra, dưới ánh đèn điện vàng vọt có thể thấy rõ lòng bàn tay trái một vệt đứt dài khoảng 5cm dính bùn đất đang chảy máu.
– Em đỡ được lúc nó chém vào đầu, xe máy chắc vẫn ngoài đấy.
Ông K. được băng bó rất nhanh, ông chủ nhà cũng vào nhà mang ra hai khẩu súng kíp, thời điểm này người dân tộc sở hữu súng kíp không có gì lạ, còn súng quân dụng thì họ giấu khá kĩ, không phải ai cũng có. Có súng làm người ta thêm tự tin, dù súng chỉ bắn phát một rồi nhồi đạn vẫn tốt hơn là tay không tấc sắt, uy lực của súng hơn con dao rừng rất nhiều, điều này thì ai cũng hiểu.
Hai người đàn ông nối đuôi nhau lom khom men theo vệ đường đi xuống dốc, tay lăm lăm súng sẵn sàng nhả đạn nếu thấy bóng người.
Hồi hộp!
Phía xa chừng cả cây số lúc này có bóng đèn pha và tiếng xe Zin đi tới, hai người quyết định ngồi chờ xe tới gần, tận dụng ánh đèn xe để quan sát động tĩnh, dù sao cũng có thêm người giúp sẽ an tâm hơn.
Xe tải dừng lại khi thấy rõ dưới ánh đèn pha chiếu là chiếc xe 67 nằm chỏng chơ, thân cây nhỏ vắt ngang đường vẫn nằm ở vị trí chân dốc, xung quanh vẫn còn rải rác tiền rơi. Ông K. cất tiếng gọi để người lái xe nghe thấy và bước ra giữa đường giơ hai tay vẫy vẫy, khẩu súng đã đưa cho người đi cùng. Cửa xe tải mở ra, có tiếng đáp lại rồi bác tài xuống xe, thật may đây lại là xe của bộ đội làm kinh tế, bác tài xế có hẳn AK luôn kìa.
Sáng sớm hôm sau công an tới hiện trường vụ cướp để lập hồ sơ, lấy lời khai, số tiền bị cướp mất gần Bốn triệu đồng, vàng lúc đó mới khoảng Một trăm năm mươi nghìn đồng một chỉ.
Có mấy thông tin rất giá trị mà bên công an thu được gồm có:
– Xe máy vẫn cắm chìa khóa nhưng không bị mất, xe bị đổ sang bên phải.
– Một tên cướp nói giọng Kinh chưa sõi bị thọt chân trái.
– Vị trí chặn đường cướp của nằm ở chân dốc gần địa điểm mà ông K. sẽ quay lại để lấy hàng và trả tiền.
Sau khi trình báo, ông K. (tức bố tôi) nhờ bên công an gọi về số điện thoại của nông trường báo cho người nhà.
Trong khi những sự việc xảy ra với bố mình ở một nơi cách xa hơn mười ki – lô – mét thì tôi vẫn đang ngủ ngon, khi trời sáng rõ có người gọi cổng thì tôi mới tỉnh giấc.